Hoạt động ngành tài chính – ngân hàng có gây ô nhiễm môi trường?

Câu hỏi

Hoạt động ngành tài chính – ngân hàng có gây ô nhiễm không khí, tiếng ồn, nguồn nước và đất không? Nếu có thì do nguồn phát thải nào và tác nhân gây ô nhiễm là gì?

Hoạt động tài chính - ngân hàng gây ô nhiễm môi trường

Đang trả lời 0
nhquynh1 4 tháng 2021-09-24T01:08:48+07:00 0 Câu trả lời 221 lượt xem 0

Câu trả lời ( 3 )

  1. Rủi ro môi trường – xã hội đối với các tổ chức tín dụng

    Với chức năng cung cấp tài chính, các tổ chức tín dụng luôn có vai trò quyết định đối với việc triển khai các dự án phát triển, tuy nhiên hầu như không được nhắc đến khi bàn về trách nhiệm giải trình môi trường – xã hội phát sinh từ các hoạt động kinh tế đó. Trong số những dự án đệ trình xin vay vốn, nhiều dự án tiềm ẩn những tác động tiêu cực lớn đối với môi trường và xã hội.

    Nói cách khác, các tổ chức tín dụng có thể gián tiếp gây những tác động môi trường và xã hội như ô nhiễm môi trường, hủy hoại nguồn nước, mất rừng, suy giảm đa dạng sinh học, lạm quyền và xung đột đất đai. Trong bối cảnh các yêu cầu bảo vệ môi trường và nhân quyền ngày càng được thừa nhận, luật hóa và tuân thủ, thì các tổ chức tín dụng cũng đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức. Trên thế giới, nhiều dự án buộc phải hủy bỏ bởi sự phản đối của cộng đồng và xã hội dù đã được chính phủ chấp thuận triển khai, thậm chí đã được ngân hàng cam kết cấp tín dụng.

    Ở Mỹ vào năm 1993, tập đoàn tài chính Fleet Factors đã bị tòa án Mỹ ra phán quyết phải thực hiện bồi hoàn môi trường do đầu tư và có liên đới trực tiếp đến một công trình gây ô nhiễm. Đây là một vụ kiện kinh điển trong ngành tài chính Mỹ. Sau vụ việc này, các tổ chức tín dụng đã phải nghiêm túc tính toán đến những rủi ro môi trường khi cho vay vốn. Kết quả điều tra của Hiệp hội Ngân hàng Mỹ cho biết sau vụ Fleet Factors, 63% ngân hàng ở Mỹ đã từ chối cấp vốn cho các dự án mà họ cho là có rủi ro về môi trường và 46% trong số các ngân hàng này đã quyết định chấm dứt tài trợ cho một số ngành hay gây ô nhiễm môi trường (IISD, 2013).

    Ở Ấn Độ, Chính phủ đã ban hành chính sách khuyến khích các ngân hàng xem xét tham gia Nguyên tắc Xích đạo và thúc đẩy tín dụng xanh trong nỗ lực hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, chính sách này của Ấn Độ không đưa ra những yêu cầu cụ thể hay bắt buộc đối với ngân hàng. Trên thực tế, một số tổ chức tín dụng của Ấn Độ đã bị ảnh hưởng vì dự án họ cho vay vốn bị đình chỉ do các vấn đề môi trường. Tổ chức IFMR của Ấn Độ đã tiến hành nghiên cứu đối với 8 trường hợp đã bị đình chỉ, buộc giảm quy mô hay trì hoãn do các vấn đề môi trường, gây những tổn thất lớn về mặt tài chính. Ví dụ, dự án thủy điện trên sông Bhagirathi bị đình chỉ dù đã bắt đầu xây dựng và chủ dự án không thể hoàn trả vốn vay cho ngân hàng (Mandal & Venkataramani, 2013).

    Ở Việt Nam, các hoạt động kinh tế hiện nay vẫn chủ yếu phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giá rẻ; chưa có những yếu tố hấp dẫn như năng lực kỹ thuật và môi trường đầu tư tốt để thu hút các dự án công nghệ cao. Nhìn chung, nhiều địa phương hiện nay vẫn chủ yếu đặt các ưu tiên cho phát triển kinh tế ngắn hạn hơn là mục tiêu bảo vệ môi trường trước mắt và lâu dài. Do đó, rất nhiều dự án không thân thiện, thậm chí có nguy cơ cao, đối với môi trường đã được cấp phép đầu tư như khoáng sản, nhiệt điện, thủy điện,… mà thiếu sự cân nhắc đầy đủ về bảo vệ môi trường. Trong một số trường hợp, việc triển khai những dự án này đã gây ra sự phản đối gay gắt từ phía cộng đồng do các vấn đề liên quan đến tranh chấp đất đai, cản trở sinh kế hoặc ô nhiễm môi trường. Việc thực hiện các dự án này do đó cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro tài chính đối với cả ngân hàng và nhà đầu tư. Ngược lại, một số đề xuất dự án như thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có nguy cơ cao đối với đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Cát Tiên đã được Nhà nước lắng nghe, xem xét và ra quyết định đưa ra khỏi quy hoạch, không cấp phép thực hiện.

    Những năm gần đây Việt Nam đang thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế thông qua đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương. Đến 2016, 16 hiệp định thương mại tự do đã được Chính phủ Việt Nam ký kết với các quốc gia và khu vực đối tác, trong đó có những hiệp định thế hệ mới như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hay Hiệp định Thương mại Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EVFTA). Ngoài các thỏa thuận về loại bỏ, cắt giảm thuế quan, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có những yêu cầu rất khắt khe về bảo vệ môi trường và lao động. Ví dụ, khi xuất khẩu các sản phẩm dệt may sang thị trường Châu Âu, doanh nghiệp phải đảm bảo xử lý chất thải đạt yêu cầu và đảm bảo các yêu cầu về môi trường lao động. Trong trường hợp không tuân thủ được các yêu cầu này, doanh nghiệp có thể bị xử phạt và đối mặt với các rủi ro về tài chính.

    Đến nay Việt nam chưa công bố một báo cáo hay số liệu chính thức nào về việc ngân hàng bị mất các khoản cho vay do dự án bị đình chỉ bởi các vấn đề môi trường. Tuy nhiên, trên thực tế một số ngân hàng cũng đã từng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến môi trường. Ví dụ, dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh) bị đình trệ sau gần 10 năm chuẩn bị; dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đã bị loại bỏ khỏi quy hoạch sau gần 3 năm chủ dự án chuẩn bị thủ tục đầu tư; dự án phát triển đô thị ven sông Đồng Nai phải tạm dừng hay các dự án nhiệt điện Vĩnh Tân gặp phải sự phản đối gay gắt từ cộng đồng. Rõ ràng, việc đặt ra và áp dụng các nguyên tắc phòng ngừa rủi ro tín dụng phát sinh từ các nguy cơ môi trường – xã hội là cần thiết, nhất là trong bối cảnh đầu tư vào năng lượng, khai khoáng, sản xuất nông nghiệp quy mô lớn đang có xu hướng mở rộng trong tương lai. Hình 2 ở dưới cho thấy trường hợp dư nợ của ngân hàng VietcomBank chủ yếu tập trung vào các ngành có liên quan đến nhiều nguy cơ môi trường là năng lượng và khoáng sản.

    Một số ngành tiềm ẩn rủi ro về môi trường  2016 - Vietcombank


    Trích từ tài liệu báo cáo:

    Chính sách môi trường trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
    Tác giả: Trần Thanh Thủy, Nguyễn Hồng Anh và Nguyễn Việt Dũng, 2016.

    (Nguồn: nature.org.vn – Tải file PDF đầy đủ)

    2
    2021-09-24T01:47:41+07:00

    “Xanh hóa” ngành ngân hàng: Áp dụng chuẩn mực bắt buộc hay khuyến khích tham gia tự nguyện

    Tại hội thảo “Quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong ngành ngân hàng” do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) phối hợp cùng Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) tổ chức vào ngày 21-22/08/2012, đại diện của SBV cho biết SBV và IFC đã ký một thỏa thuận hợp tác với mục tiêu cuối cùng là SBV sẽ đưa ra quy định về việc các ngân hàng hoạt động ở Việt Nam cần phải có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội thông qua việc thẩm định nghiêm ngặt các dự án khi xét duyệt tín dụng.

    Cũng trong hội thảo này, công ty tư vấn MCG trình bày kết quả khảo sát của họ về hoạt động quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong ngành ngân hàng ở Việt Nam. Khảo sát này đóng vai trò làm cơ sở để SBV xây dựng quy định trong ngành với sự tư vấn và hỗ trợ của IFC.

    Theo kết quả khảo sát, 89% số ngân hàng tham gia khảo sát không biết đến bất kỳ tài liệu hướng dẫn hay tiêu chí nào về quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong ngành tài chính. 93% các ngân hàng cũng cho rằng cần phải có hướng dẫn về vấn đề này. Tuy nhiên, các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam cho rằng SBV chỉ nên quy định về tiêu chuẩn chứ không nên quy định chi tiết về cách làm do một số ngân hàng nước ngoài đã có quy chế và quy trình đánh giá riêng. Việc thay đổi theo một quy trình mới sẽ gây ra nhiều bất tiện. Trong khi đó, các ngân hàng Việt Nam lại tỏ ý muốn có một hướng dẫn chi tiết.

    Theo một nghiên cứu độc lập chưa công bố của Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) được tiến hành ở cùng thời điểm với khảo sát nói trên của MCG, việc các ngân hàng chưa thực sự quan tâm đến các vấn đề môi trường và xã hội trong hoạt động tín dụng không chỉ đơn giản là vì họ “không biết làm như thế nào”. Dù hầu hết các cán bộ tín dụng ngân hàng chưa được đào tạo về việc thẩm định các rủi ro môi trường và xã hội nhưng kinh nghiệm làm việc cũng ít nhiều giúp họ hình dung được những ảnh hưởng của các dự án mà họ cho vay vốn đến môi trường tự nhiên và an sinh xã hội.

    Tuy nhiên, những ảnh hưởng này trên thực tế chưa phải là những rủi ro quá lớn đối với ngân hàng khiến họ phải chủ động đưa ra các biện pháp phòng ngừa và bảo hộ. Một lãnh đạo cấp cao của một ngân hàng lớn ở Việt Nam cũng cho biết, thách thức lớn nhất để các ngân hàng thực hiện trách nhiệm của mình đối với môi trường, xã hội là việc đánh đổi giữa các lợi ích kinh tế từ những dự án gây tác động và việc trở thành một ngân hàng “xanh hơn” với những lợi ích còn chưa nhìn thấy được. Trong bối cảnh hiện nay của ngành
    ngân hàng Việt Nam với những yêu cầu cải tổ, tái cơ cấu, và bắt đầu suy nghĩ về một tương lai bền vững hơn thay vì chỉ đầu tư “ăn xổi,” việc SBV ra một quy định chung trong toàn ngành về vấn đề trách nhiệm môi trường và xã hội có thể sẽ là một bước đà cho những ngân hàng lớn ở Việt Nam đang muốn đi tiên phong trong lĩnh vực này.

    Cũng theo nghiên cứu nói trên của PanNature, một rào cản đối với việc thực hiện trách nhiệm môi trường và xã hội trong hoạt động tín dụng là do một số ngân hàng lớn cũng còn e dè chưa muốn một mình đi tiên phong. Tuy nhiên, cách tiếp cận này của ngành ngân hàng Việt Nam, thông qua một quy định áp đặt từ trên xuống cũng không tránh khỏi có thể có những hạn chế cần phải cân nhắc.

    Những bài học từ chương trình “Chính sách Tín dụng Xanh” mà Trung Quốc đã thực hiện từ năm 2007 có thể cũng là kinh nghiệm quý cho Việt Nam. Chính sách này được ban hành vào tháng 07/2007 nhằm khuyến khích các ngân hàng Trung Quốc thực hiện cấp tín dụng cho các dự án ít gây ô nhiễm, thân thiện với môi trường hay sử dụng năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, Trung Quốc đã mất gần năm năm kể từ khi bắt đầu ra chính sách cho đến khi xây dựng được một hướng dẫn tương đối chi tiết để thực hiện chính sách này (tháng 02/2012).

    Trước đó, một số các nghiên cứu độc lập về việc thực hiện chính sách này đều đánh giá không cao hiệu quả của nó đối với các hoạt động thực tiễn của các ngân hàng Trung Quốc. Một trong những khó khăn lớn nhất của việc thực hiện chính sách này ở Trung Quốc là việc thiếu đi một hệ thống đánh giá đáng tin cậy về các ngành nghề và các cơ sở gây ô nhiễm môi trường để làm căn cứ cho các ngân hàng phân loại dự án, đặc biệt là khi nhiều ngành gây ô nhiễm cũng đang là những ngành mang lại lợi nhuận cao cho nhiều địa phương. Cũng theo nghiên cứu này, số cơ sở gây ô nhiễm được đưa vào danh sách đen (và không thể vay vốn ngân hàng cho đến khi họ cải thiện được tình trạng gây ô nhiễm) được cho là quá ít so với số cơ sở bị phạt bởi Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc do gây ô nhiễm (38 so với 8.000 năm 2007).

    Nếu ngành ngân hàng Việt Nam đi theo con đường này, đây cũng sẽ là thách thức lớn nhất, đồng thời cũng có thể trở thành một lý do để các ngân hàng trì hoãn và né tránh việc cắt giảm tín dụng cho những ngành, những cơ sở gây ô nhiễm và ảnh hưởng đến dân sinh nhưng mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp và cho ngân hàng. Mỹ có lẽ là một trong những nước đầu tiên trên thế giới có quy định về trách nhiệm đối với môi trường không chỉ của doanh nghiệp gây ô nhiễm mà còn của các bên liên quan khác, trong đó có thể bao gồm cả ngân hàng cho vay vốn cho các công trình, dự án gây ô nhiễm khi thông qua Đạo luật Bồi hoàn Môi trường Toàn diện (CERCLA – Comprehensive Environmental Response, Compensation, and Liability Act) năm 1980. Mặc dù Đạo luật này có miễn trừ trách nhiệm của người cho vay (thường là các tổ chức tín dụng), nhưng những trường hợp người cho vay có tham gia một mức nhất định đến việc đảm bảo an toàn môi trường, xã hội của công trình/dự án gây ô nhiễm (ví dụ, sở hữu) thì cũng phải nộp phạt một khoản phí không nhỏ.

    Năm 1990, tập đoàn tài chính Fleet Factors đã bị tòa án Mỹ ra phán quyết phải thực hiện bồi hoàn môi trường do đầu tư và có liên đới trực tiếp đến một công trình gây ô nhiễm. Đây là một vụ kiện kinh điển trong ngành tài chính Mỹ, và mặc dù gây nhiều tranh cãi vẫn khiến cho các tổ chức tín dụng sau đó phải nghiêm túc tính toán đến những rủi ro môi trường khi cho vay vốn. Bên cạnh đó, những quy định nghiêm ngặt của CERCLA về bồi hoàn môi trường cũng tác động gián tiếp đến các ngân hàng vì nếu phải bồi hoàn môi trường thì chủ đầu tư dự án sẽ mất khả năng trả nợ cho ngân hàng. Viện Quốc tế về Phát triển Bền vững (IISD) dẫn kết quả một cuộc điều tra của Hiệp hội Ngân hàng Mỹ cho biết sau vụ Fleet Factors, 63% ngân hàng ở Mỹ đã từ chối cấp vốn cho các dự án mà họ cho là có rủi ro về môi trường và 46% trong số các ngân hàng này đã quyết định chấm dứt tài trợ cho một số ngành hay gây ô nhiễm môi trường.

    Tại châu Âu, năm 1989, Ủy ban Châu Âu (EC) đưa ra một bản dự thảo Chỉ thị về Trách nhiệm Dân sự đối với những tổn hại do rác thải. Tuy nhiên, đến năm 2004, Chỉ thị này mới được chính thức đưa ra sau khi EC thu hẹp bớt những quy định về người chịu trách nhiệm với cơ sở gây ô nhiễm do các ngân hàng châu Âu lo ngại đây sẽ trở thành một CERCLA thứ hai. Sau khi Chỉ thị này có hiệu lực (từ tháng 4/2004), các nước thành viên của EC có ba năm để xây dựng luật tại quốc gia mình. Tuy nhiên, đến tháng 07/2010 việc này mới được hoàn tất nên đánh giá về hiệu quả thực hiện còn hạn chế.

    Bên cạnh việc luật hóa trách nhiệm như các ví dụ ở trên, có một số nỗ lực khác ngoài nhà nước nhằm thúc đẩy trách nhiệm của ngành ngân hàng đối với môi trường và xã hội. Trong đó có thể kể đến Sáng kiến Tài chính của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEPFI), Cam kết Hiệp ước Toàn cầu của Liên Hiệp Quốc (UNGC), Nguyên tắc Đầu tư có Trách nhiệm của Liên Hiệp Quốc, Nguyên tắc Xích đạo (EP)Nguyên tắc Các-bon, Nguyên tắc Khí hậu, ISO 26000 và một số sáng kiến/dự án khác. Trong đó, EP là bộ chuẩn mực được chính các tổ chức tài chính xây dựng và cam kết thực hiện.

    Năm 2002, IFC và 9 ngân hàng quốc tế họp ở London để bàn về trách nhiệm của các ngân hàng đối với tài chính phát triển và quyết định xây dựng một bộ tiêu chuẩn thực hiện trách nhiệm đối với môi trường, xã hội dựa trên các bộ tiêu chuẩn đã có của IFC. EP được chính thức ra đời năm 2003 và đến nay đã có 77 tổ chức tài chính tham gia cam kết. EP được sửa đổi lần thứ nhất năm 2006 và hiện đang được sửa đổi lần thứ hai. Bản thảo sửa đổi lần II đang được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi. Hiện nay, EP được xem như bộ chuẩn mực tự nguyện mang tính hướng dẫn tốt nhất đối với các nhà đầu tư tài chính. Một số quốc gia không có một chính sách chung như “Tín dụng xanh” nhưng các ngân hàng thương mại vì nhiều lý do có thể tự nguyện cam kết thực hiện các bộ tiêu chuẩn này.

    (Nguồn: cepf.net)

    0
    2021-10-10T15:17:32+07:00

    Ngân hàng có thể tác động tiêu cực về môi trường, xã hội

    Nghiên cứu 34 ngân hàng của 6 quốc gia ASEAN mới đây cho thấy, các ngân hàng của ASEAN chưa tích hợp yếu tố về môi trường và xã hội trong các hoạt động và đầu tư. Trong khi đó, các hoạt động hỗ trợ tài chính của ngân hàng có thể gây ra những tác động tiêu cực về môi trường và xã hội.

    Đây là kết quả của nghiên cứu “Tài chính Bền vững tại khối ASEAN: Giải quyết các vấn đề về Rừng, Sinh cảnh, Khí hậu, Nguồn nước và Xã hội của ASEAN” vừa mới được công bố.

    Nghiên cứu được thực hiện bởi Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF) và Trung tâm Quản trị, thể chế & các tổ chức (CGIO) thuộc khoa Kinh tế, ĐH Quốc gia Singapore; với 34 ngân hàng của 6 quốc gia ASEAN gồm Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Philipines và Việt Nam.

    Thiếu quản lý rủi ro khí hậu và phát triển bền vững

    Trong tổng số 34 ngân hàng ASEAN được phân tích, có 21 ngân hàng thừa nhận, các hoạt động họ đang hỗ trợ tài chính có thể có những tác động tiêu cực về môi trường và xã hội.

    Tuy nhiên, không có ngân hàng nào công bố việc họ quản lý các rủi ro về khí hậu và phát triển bền vững ra sao trong các hạng mục đầu tư.

    Ngoài ra, mặc dù có 26 ngân hàng có đề cập tới yếu tố bền vững trong chiến lược hoặc tầm nhìn của mình, thì chỉ có 12 ngân hàng công nhận tầm quan trọng của rủi ro khí hậu tới xã hội và doanh nghiệp.

    Cũng chỉ có duy nhất một ngân hàng có nhân sự giám sát cấp cao về rủi ro khí hậu.

    Thực tế, chính phủ các quốc gia trong khu vực đã cam kết thực hiện mục tiêu về phát triển bền vững và biến đổi khí hậu theo Thoả thuận khí hậu Paris và mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, báo cáo nghiên cứu cho thấy, cam kết này của các chính phủ đã không được phản ánh đầy đủ trong thực tiễn, cũng như trong quy định hoạt động của các ngân hàng khối ASEAN.

    Theo các chuyên gia, việc các ngân hàng chưa xem xét đầy đủ việc quản lý các rủi ro về môi trường sẽ góp phần làm suy thoái môi trường như biến đổi khí hậu, làm gia tăng rủi ro hoạt động cho các ngân hàng và khách hàng của họ về mặt dài hạn.

    GS Tommy Koh, Đại sứ đặc mệnh của Bộ Ngoại giao Singapore, Đại sứ Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc, nhận xét: “Các ngân hàng có khả năng và trách nhiệm gây ảnh hưởng tới các doanh nghiệp, đồng thời tạo ra sự chuyển đổi phương thức tiếp cận phát triển trong khu vực.

    Với tình trạng an ninh lương thực, nguồn nước và môi trường tự nhiên của ASEAN đang bị đe doạ, tôi kêu gọi ngành tài chính thực hiện những biện pháp cần thiết để giải quyết tình hình.”

    Theo báo cáo, các cổ đông ngày càng mong đợi các ngân hàng công bố cách họ quản lý rủi ro khí hậu trong các danh mục đầu tư, bởi các rủi ro này tác động tới sự bền vững tài chính của ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng cần phải có hướng dẫn tài chính bền vững cụ thể và hành động khẩn cấp. Điều này nhằm ngăn chặn những khủng hoảng về môi trường và xã hội, những yếu tố có khả năng làm tê liệt sự tăng trưởng kinh tế của khu vực trong tương lai.

    Ngân hàng cần mở rộng cách tiếp cận hoạt động của họ theo hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG). Điều này đòi hỏi họ phải thay đổi cách quản lý rủi ro ngắn hạn, đưa yếu tố bền vững vào chiến lược và hài hoà hoạt động đầu tư của mình với Thoả thuận Khí hậu Paris và Mục tiêu Phát triển bền vững.

    Cần xây dựng các hướng dẫn pháp lý về ngân hàng bền vững

    Qua kết quả nghiên cứu, WWF cho rằng, các nhà quản lý ASEAN cần thực hiện các hướng dẫn pháp lý tài chính bền vững với khung thời gian cụ thể để đảm bảo ngành ngân hàng phát triển nhất quán, nhằm đạt được các mục tiêu trên.

    Trong 6 quốc gia được nghiên cứu, đã có khung quy định nhằm hỗ trợ việc tích hợp các yếu tố ESG trong quản trị doanh nghiệp và các hướng dẫn báo cáo. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia này đều có quy định về ngân hàng bền vững. Các nhà quản lý có thể xây dựng những quy định, trong đó khuyến khích các ngân hàng tích hợp yếu tố ESG, dựa trên các quy chuẩn, mục tiêu có cơ sở khoa học và bền vững.

    Ông Steve Waygood, Trưởng phòng Đầu tư Bền vững của Aviva, cho biết: “Trước khi thị trường vốn có thể thực sự phát triển bền vững, các nhà hoạch định chính sách về tài chính và thị trường vốn cần phải quan tâm nhiều hơn đến thế hệ tương lai khi đưa ra quyết sách.

    Tôi khuyến khích các tổ chức tài chính của ASEAN hợp tác với các nhà quản lý và hiệp hội ngân hàng. Các nhà hoạch định chính sách và quản lý có thể hợp tác với các tổ chức xã hội để có những giải pháp, trong đó có ý kiến tham gia của các bên liên quan.”

    Nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á thực hiện năm 2016 cho thấy, biến đổi khí hậu có thể dẫn đến tổn thất kinh tế hàng năm tương đương với 6,7% tổng sản phẩm quốc nội của ASEAN vào năm 2100; trong khi đó mức tổn thất toàn cầu dự tính là 2.6%.

    Các hoạt động sản xuất dựa vào năng lượng hoá thạch ngày càng gia tăng, sản xuất nông phẩm gây phá rừng và các dự án đập thuỷ điện không bền vững sẽ làm cho các tổn thất này trầm trọng thêm.

    (Nguồn: nguoidothi.net.vn/ngan-hang-co-the-tac-dong-tieu-cuc-ve-moi-truong-xa-hoi-10365.html)

Trả lời