Khoa học xã hội và nhân văn trong phát triển bền vững của đất nước?

Câu hỏi

Vị trí của khoa học xã hội và nhân văn trong phát triển bền vững của đất nước?
-> Mọi người giúp em với ạ. Em cảm ơn mọi người.

Vị trí khoa học xã hội nhân văn trong phát triển đất nước

Đang trả lời 0
Nguyn 2 tuần 2 Câu trả lời 114 lượt xem 0

Câu trả lời ( 2 )

  1. Vai trò của khoa học xã hội và việc định hướng phát triển văn hóa

    Việt Nam có vị thế địa – chính trị đặc thù. Điều đó thể hiện rõ trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong thế kỷ XX. Sang thế kỷ XXI, vị thế này của Việt Nam ngày càng có ảnh hưởng đến trật tự địa – chính trị khu vực và thế giới. Về phía Việt Nam, phương thức để giải bài toán địa – chính trị đặc thù này chỉ có thể là các chiến lược có tầm lịch sử và văn hóa. Thách thức rất lớn, nhưng cơ hội là không nhỏ. Với nền văn hóa có bề dày lịch sử mấy nghìn năm, nội lực văn hóa cần phải tính đến là sức mạnh của lòng dân, là ý chí của dân tộc, là chủ nghĩa yêu nước, khát vọng phát triển và bản sắc văn hóa,… Đó là “sức mạnh mềm” trong chiến lược phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Và đó là khẳng định của khoa học xã hội Việt Nam ở trình độ hiện nay.

    Về quan hệ giữa khoa học xã hội, nhân tố văn hóa và sự phát triển

    Nói tới khoa học xã hội là nói tới con người, xã hội và văn hóa. Hay chính xác hơn, con người, xã hội và văn hóa là khách thể, đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn. Khi nghiên cứu các đối tượng đặc thù của mình, khoa học xã hội và nhân văn đã làm sâu sắc thêm sự bí ẩn của nhân tố con người với tính cách là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Chính con người và sự phát triển tự do của con người (chứ không phải những con số ấn tượng về GDP, tốc độ tăng trưởng hay những tiện nghi hiện đại về văn minh vật chất) mới là mục tiêu tối thượng, mới giữ vị trí là trung tâm của sự phát triển. Ngày nay, khoa học xã hội khẳng định rằng, con người với trí tuệ của mình là nguồn lực càng được khai thác lại càng giàu thêm không gặp trần giới hạn, trong khi các nguồn lực khác càng khai thác thì càng nhanh bị cạn kiệt và luôn là hữu hạn.

    Dựa vào thành tựu của các nghiên cứu định lượng và một số khoa học chính xác, khoa học xã hội cung cấp những công cụ lý thuyết giúp các chính phủ lựa chọn phương án tối ưu để phát triển, tránh theo đuổi bằng mọi giá để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà bỏ quên con người. Khoa học xã hội tư vấn ai là chủ thể hợp lý và có thẩm quyền để giải quyết hữu hiệu các vấn đề xã hội, như việc nào là của chính phủ, việc nào là của gia đình,…

    Trong hoạt động kinh tế, khoa học xã hội dù vẫn còn không ít hạn chế, nhưng đã đạt tới trình độ rất cao về chiến lược và sách lược huy động các nguồn lực, về những nguyên nhân đích thực của tăng trưởng, những kiểu tăng trưởng không lành mạnh, dự báo các bẫy tăng trưởng, những giải pháp kết hợp giữa “bàn tay vô hình” của thị trường với sự điều tiết vĩ mô có chủ đích của nhà nước… Trong quan hệ với giấc mơ thịnh vượng của các quốc gia, tiếc rằng, khá nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại mà kinh tế học và các khoa học xã hội khác đã chỉ ra, vẫn chưa được chú ý thỏa đáng. Nguyên nhân của mọi nguyên nhân vẫn là nhận thức yếu kém hoặc bị cám dỗ bởi mục đích vụ lợi mà các chính sách đôi khi lại “vác đá tự ghè chân mình”, còn quốc gia thì bỏ lỡ cơ hội thành công.

    Bài học lịch sử và bài học kinh nghiệm, trong cái nhìn của khoa học xã hội, luôn gợi ý các giải pháp và cung cấp những tư vấn sáng suốt cho hiện tại, nhất là các hiện tại nóng bỏng. Tiếng chuông cảnh báo của khoa học xã hội vẫn đang vang lên gióng giả rằng, rất nhiều bài học của quá khứ mà con người hiện tại vẫn quên một cách “vô tình”, hay “vẫn không thuộc bài” và rồi lại phải trả giá đắt hơn.

    Với văn hóa, khoa học xã hội ngày nay nhận thức về nó với quan điểm cách mạng. Khái niệm văn hóa có từ rất sớm, nhưng văn hóa học, xã hội học văn hóa và quan điểm coi văn hóa là nhân tố bên trong của sự phát triển, có khả năng quy định diện mạo của tương lai,… thì mới xuất hiện chưa lâu. Đầu thế kỷ XXI, khoa học xã hội còn nhìn ra vị thế của văn hóa với tính cách là “sức mạnh mềm” của các quốc gia. “Sức mạnh mềm” có thể thua súng đạn hay thậm chí sự xâm lược (“sức mạnh cứng”) trong việc giải quyết các vấn đề tình huống, tức thời, nhưng “sức mạnh mềm” lại có khả năng mang lại sự phát triển bền vững. Văn hóa không chỉ là sản phẩm của sản xuất xã hội, mà còn là cái nằm ở tầng sâu của đời sống xã hội. Nó quy định chiều hướng, cách thức và diện mạo của sự phát triển. Nghĩa là dù phát triển đến trình độ nào, con người và cộng đồng của mỗi xã hội vẫn chỉ có thể cảm thấy an toàn và tiến bộ khi phát triển không thoát ly khỏi bản sắc truyền thống, không đứt gãy với lịch sử, không quay lưng lại với giá trị chung toàn nhân loại và không xa rời những khuynh hướng nhân đạo. Các quốc gia thành công đều là các xã hội vừa hiện đại, vừa truyền thống; vừa bứt phá, vừa kế thừa, vừa độc đáo, vừa không ngoại lệ… “Không giống ai” và “không còn là mình” đều là các thái cực nguy hiểm.

    Với những điều vừa nêu, chúng tôi muốn lưu ý rằng, văn hóa và khoa học xã hội là những nhân tố ngày càng có quan hệ hữu cơ với sự phát triển của các quốc gia. Các quốc gia hưng thịnh và phát triển, nhất là các quốc gia có bề dày truyền thống, đều không xem nhẹ nhân tố văn hóa, không đánh giá thấp tiếng nói của khoa học xã hội. Các trung tâm chiến lược, các nhóm tư vấn mạnh (think tank) được tin dùng hiện nay đều là các cỗ máy trí tuệ về khoa học xã hội. Bởi lẽ, nhờ khả năng trực tiếp định hướng cho hành động, khoa học xã hội thường là chỗ dựa tinh thần và tâm lý, trang bị sức mạnh tư tưởng và văn hóa, cung cấp luận cứ khoa học có chiều sâu lịch sử,… để các quốc gia kịp thời hoạch định được chiến lược hay các quyết sách, ứng phó với tình huống, từ giải pháp chính trị đến đột phá phát triển kinh tế hay chiến lược bảo vệ chủ quyền quốc gia. Ngày nay, dù chọn phương thức phát triển nào, các quốc gia cũng đều coi các giá trị về con người và bản sắc văn hóa là lý do tồn tại đầu tiên của mình.

    Vị thế địa – chính trị của Việt Nam trong thế kỷ XXI

    Việt Nam có bề dày văn hóa truyền thống mấy nghìn năm. Dưới lăng kính của các khoa học xã hội và nhân văn, điều được thừa nhận này có ý nghĩa là cái quy định sự phát triển tiếp theo của đất nước. Quán tính lịch sử, khuôn mẫu văn hóa, bản lĩnh dân tộc, thói quen tư duy, cách thức kiếm sống, phương thức ứng xử,… với tất cả thế mạnh và những hạn chế của nó, chắc chắn sẽ không tách rời hiện tại và tương lai. Và, sự phát triển tối ưu hay hợp lý sẽ đến với chủ thể nào biết phát huy thế mạnh về văn hóa, nhận ra được những khuyết tật cố hữu của mình để nắm bắt và khống chế cơ hội trong thế giới toàn cầu hóa.

    Trong so sánh với các dân tộc – quốc gia xung quanh và xa hơn ở bên ngoài, Việt Nam trước nay luôn được đánh giá tích cực ở nhân tố văn hóa. Không phải ngẫu nhiên, cố lãnh đạo Xin-ga-po Lý Quang Diệu từng nhận xét: “Việt Nam là một trong những dân tộc nghị lực và có khả năng nhất Đông Nam Á. Sinh viên Việt Nam đến Xin-ga-po theo diện học bổng ASEAN rất nghiêm túc với việc học hành và thường đạt điểm số cao nhất”.

    Tuy vậy, điều khó khăn khi vận dụng lý thuyết văn hóa trong phát triển là ở chỗ, những ảnh hưởng, tác động của văn hóa thường không sát sườn, không trực tiếp và lợi ích trước mắt mà văn hóa đem lại cho các chủ thể thường không đủ thu hút, thậm chí đôi khi còn làm giảm lợi ích kinh tế, hy sinh các lợi ích khác. Thêm vào đó, văn hóa, ở phạm vi tư vấn chính sách, phần lớn lại là những đại lượng khó tính toán; đã có những trường hợp khi thỏa mãn được lợi ích văn hóa này, người ta lại vô tình hy sinh lợi ích văn hóa khác, có khi căn bản hơn.

    Về phương diện địa – chính trị, trong thế kỷ XXI Việt Nam là quốc gia có vị thế rất đặc biệt trên bàn cờ chính trị khu vực và thế giới, là nhân tố có ý nghĩa chi phối trật tự địa – chính trị khu vực và thế giới.

    Trong thế kỷ XX, các cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước, giải phóng dân tộc đều có nguyên nhân không tách rời vị thế địa – chính trị của đất nước. Ngày nay, trong tương quan với chiến lược của Mỹ xoay trục về châu Á – Thái Bình Dương và trong tương quan với tham vọng “Giấc mộng Trung Hoa” của Trung Quốc, vị thế địa – chính trị của Việt Nam một lần nữa lại trở nên quan trọng, nằm ngoài ý muốn của tất cả các bên.

    Vấn đề là ở chỗ, nếu xem nhẹ vị thế địa – chính trị đặc biệt của Việt Nam, việc mưu cầu và theo đuổi lợi ích của một số nước lớn có thể bị vi phạm. Những năm gần đây, các đầu óc chiến lược của nhiều nước lớn đều đã nhận ra tính thực tế của điều này. Và, không hề ngẫu nhiên, sách lược của các nước lớn đều công nhiên thể hiện khá rõ phương thức ứng xử có tính đến yếu tố Việt Nam.

    Giữ vị trí giao điểm của các luồng văn minh, Việt Nam xưa nay luôn là mảnh đất dừng chân, lập nghiệp và hội tụ của nhiều tôn giáo, nhiều phương thức sống, nhiều dạng văn minh. Văn minh Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Óc Eo, văn minh Đại Việt từ thời Đinh, Lê đến tận thế kỷ XX, trong tương quan với các nền văn minh – văn hóa bên ngoài đương thời, đều không hề thua kém về trình độ phát triển.

    Nhìn lại lịch sử, có thể thấy cha ông ta đã xử lý rất hiệu quả nhân tố đặc thù văn hóa địa – chính trị ngặt nghèo này. Những bài học kinh nghiệm phong phú đã một phần được ghi lại trong sử sách. Việc tìm kiếm những gợi ý thông minh cho hiện tại và tương lai là trách nhiệm phải đúc kết của thế hệ hôm nay.

    Bài học kinh nghiệm gợi ý tìm phương thức phát triển cho tương lai, mà thế hệ hôm nay có trách nhiệm phải đúc kết, trước hết và cũng rất căn bản là bài học về phương diện văn hóa. Cùng với vị thế địa chiến lược quan trọng, Việt Nam còn có cả một bề dày văn hóa được tạo dựng và tôi luyện qua mấy nghìn năm lịch sử và cũng vừa mới sử dụng trong gần trọn thế kỷ XX. Bài học từ quá khứ còn nóng hổi. Chủ nghĩa yêu nước sâu sắc, bền bỉ. Ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tư tưởng “Vì dân”. Tinh thần “Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn”. Sách lược “Dĩ bất biến ứng vạn biến”… Đó là những sức mạnh văn hóa có thực nếu thế hệ hôm nay biết tôn trọng, khai thác và vận dụng.

    Để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và là động lực của sự phát triển

    Thứ nhất, để văn hóa phát huy được vai trò là nhân tố thúc đẩy đất nước phát triển, văn hóa phải thực sự là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và là động lực của sự phát triển – điều này không mới về mặt lý luận, nhưng đặc biệt cấp thiết về phương diện quản lý vĩ mô, hoạt động thực tiễn và hoạch định chính sách.

    Nói không mới về mặt lý luận vì từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước đến nay, khá nhiều cuốn sách chuyên khảo và không ít hội thảo khoa học tầm cỡ bàn khá kỹ về các nội dung này. Mặc dầu vậy, trong thực tế, sự tôn trọng vai trò của văn hóa dường như có phần giảm đi. Nhiều đề án kinh tế – xã hội đã công nhiên hy sinh văn hóa vì mục tiêu kinh tế. Để khắc phục tình trạng này Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI đã nhấn mạnh: “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. Tính văn hóa của nhiều hoạt động văn hóa cũng rất thấp. Các chính sách có liên quan đến văn hóa đôi khi cũng vi phạm tiêu chuẩn văn hóa. Văn hóa làm người “ở một bộ phận không nhỏ” có phần bị vấy bẩn trong nhiều quan hệ: bệnh nhân và thầy thuốc, công dân và cơ quan công quyền, công an và các bên đối tượng, thậm chí cả thầy giáo và học trò… Tham nhũng lớn tăng, vi phạm pháp luật nghiêm trọng hơn, thói vô cảm phổ biến,… Tình trạng này không thể cứ tiếp tục, nếu muốn đất nước phát triển nhanh và bền vững.

    Thứ hai, trong tình huống phức tạp của sự nghiệp bảo vệ chủ quyền đất nước hiện nay, nhân tố văn hóa cần phải tính đến là sức mạnh của nhân dân, là ý chí của dân tộc, là lòng yêu nước của mỗi người, là tính chính nghĩa của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc… Đó là “sức mạnh mềm” trong chiến lược bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bên cạnh sức mạnh quân sự, chính trị. Bài học văn hóa đầu tiên của các cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc là, sức mạnh của nhân tố con người bao giờ cũng mạnh hơn vũ khí.

    Thứ ba, là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa đòi hỏi phải được tồn tại như là linh hồn của mọi kế sách vĩ mô, phải thấm sâu vào mọi hoạt động, phải “soi đường cho quốc dân đi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh). Nghĩa là, không thể để bất cứ chiến lược, sách lược, chủ trương, đề án, hoạt động nào không chú ý thấu đáo đến khía cạnh văn hóa của vấn đề, không đặt văn hóa đúng tầm mức của nó, không đạt tới trình độ nhất định về văn hóa. Văn hóa phải được coi là tiêu chuẩn đánh giá kết quả hoạt động, bên cạnh những tiêu chuẩn kinh tế – xã hội. Dư luận xã hội, đạo đức xã hội và khung khổ pháp lý phải đủ mạnh để ngăn chặn tất cả những gì là phi văn hóa, thiếu văn hóa, vô văn hóa… Bên cạnh tốc độ của sự phát triển, tính nhân văn của sự phát triển và trình độ lành mạnh của đời sống xã hội là thước đo của việc văn hóa đã đóng vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội đến đâu.

    Thứ tư, là mục tiêu của sự phát triển, văn hóa phải có mặt trong kết quả của mọi chiến lược, sách lược, chủ trương, đề án và hoạt động. Mọi mục tiêu vĩ mô chưa thể được coi là hợp lý, nếu mục tiêu văn hóa trong đó được thể hiện mờ nhạt hoặc thiếu hụt. Nếu cần thiết, phải hy sinh kinh tế cho văn hóa. Người dân đồng thuận và có chỉ số hạnh phúc cao, đó là sự biểu hiện của việc văn hóa đã đóng vai trò là mục tiêu của sự phát triển.

    Hiện nay, việc chủ động hy sinh kinh tế cho văn hóa trong các chương trình, dự án rất ít xảy ra, mà thường là ngược lại. Dĩ nhiên, phát triển văn hóa không nhất thiết phải lãng phí hàm lượng kinh tế của hoạt động. Nhưng tại các dự án, công trình về văn hóa truyền thống, về đặc thù bản sắc Việt Nam, về các hành lang phát triển cho thế hệ tương lai… nếu cứ tuyệt đối chú ý đến lợi nhuận, thu nhập, thì ý nghĩa văn hóa của vấn đề rất dễ có khả năng bị quên lãng. Ở đây, vai trò của quản lý vĩ mô, của tầm nhìn vượt thời gian và của ý chí phát triển,… vô cùng quan trọng. Các quốc gia thành công thường không thiếu những chính khách có tầm nhìn xa, dám “đứng mũi chịu sào”.

    Thứ năm, là động lực của sự phát triển, văn hóa cần thực sự là chất kích thích, thúc đẩy sự tiến bộ trong từng chính sách, trong mọi hoàn cảnh, ở khắp các địa phương. Trong mọi tình huống của đất nước, tiềm năng con người luôn phải được giải phóng, tự do sáng tạo được tôn trọng, dân chủ xã hội được bảo đảm. Sự phát triển xã hội chưa thể được coi là hợp lý, nếu trong đó các tiềm năng chưa được bộc lộ và còn để lãng phí, lòng dân chưa yên.

    Hiện nay, trình độ thực của sự phát triển và hầu hết các chỉ số phát triển ở Việt Nam đều ở mức chưa phát huy hết tiềm năng, bên cạnh tình trạng thực sự thiếu tiềm năng, đặc biệt thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao. Nếu tiềm năng đã có chưa được giải phóng, chưa được phát huy và tiềm năng thiếu hụt chưa được chú ý đào tạo hoặc thu hút, thì sự phát triển khó có thể coi là hợp lý. Muốn giải phóng để tránh lãng phí các tiềm năng, muốn các nguồn lực bên trong và bên ngoài được đào tạo, được thu hút để đáp ứng tốt nhu cầu phát triển, muốn văn hóa thực sự đóng vai trò là động lực của sự phát triển thì việc tạo cơ chế, chính sách, môi trường tự do sáng tạo cho con người giữ vai trò quan trọng.

    Thứ sáu, khi nói đến văn hóa và phát triển ở phạm vi một quốc gia, người ta thường chú ý đến bầu không khí tinh thần chung của quốc gia đó – khái niệm “tâm quyển” đôi khi cũng được dùng để diễn đạt và đánh giá trình độ này của dân trí, dân sinh và dân quyền.

    Thực tế phát triển được coi là thần kỳ của một số quốc gia NICs (các nước công nghiệp mới) trong thế kỷ XX cho thấy, văn hóa sẽ thực sự là nhân tố thúc đẩy sự phát triển khi khát vọng phát triển là tâm lý không thể nguội dần ở các tầng lớp cư dân và ở chính phủ. Các quốc gia đã “hóa rồng” đều là những xã hội mà chính phủ tâm huyết với kế sách vĩ mô, trí thức cháy bỏng niềm tin với từng bước đi của đất nước.
    Ở Việt Nam, khát vọng phát triển lâu nay luôn được thế giới đánh giá cao. Tâm thức phát triển đầy nhiệt huyết, từ hàng chục năm nay, có thể bắt gặp ở bất cứ đâu, từ người dân bình thường đến các nhà lãnh đạo đầy trách nhiệm. Đó là một vốn văn hóa quý. Nhưng cũng đã có những nước, sau nhiều năm tăng trưởng nhanh, chuẩn bị “cất cánh” nhưng lại tuột mất cơ hội vì khát vọng phát triển bị nguội dần. Phi-líp-pin, Bra-xin, Pê-ru,… là những trường hợp như vậy.

    Làm thế nào để giữ được ngọn lửa khát vọng cho phát triển là điều không quá khó. Nhưng điều này lại trực tiếp phụ thuộc vào sự đồng thuận vĩ mô, vào tầm nhìn của nhà lãnh đạo, vào sự minh bạch của các kế sách và vào triển vọng ẩn giấu sau các bước đi thực tế của việc giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội. Những năm gần đây, mặc dù Việt Nam phải qua giai đoạn đầy khó khăn khi những vấn đề kinh tế – xã hội không dễ dàng trong nước và quốc tế liên tiếp nảy sinh, nhưng sự khởi sắc trở lại của nền kinh tế, sự tường minh của các quyết sách, sự xuất hiện của những công trình thế kỷ,… đã lấy lại niềm tin cho xã hội. Khát vọng phát triển vẫn không hề nguội dần. Hy vọng về tương lai là có cơ sở./.

    Theo Hồ Sĩ Quý, GS. TS, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam – Tạp chí Cộng sản

  2. Phát triển bền vững và vai trò của khoa học xã hội đối với phát triển bền vững ở Việt Nam

    Để thỏa mãn nhu cầu của mình, con người buộc phải khai thác tự nhiên, sử dụng các nguyên liệu có sẵn của tự nhiên. Nhưng để có sự phát triển bền vững thì cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau. Trong quá trình đổi mới vừa qua, khoa học xã hội Việt Nam đã có đóng góp to lớn vào việc xây dựng quan điểm và chiến lược phát triển bền vững; xây dựng và cung cấp những luận cứ khoa học về phát triển bền vững, cụ thể là: tuyên truyền và phổ biến rộng rãi những tri thức về phát triển bền vững; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học xã hội về phát triển bền vững; tham mưu, tư vấn, phản biện các chủ trương, chính sách về phát triển bền vững; tiếp thu và trao đổi tri thức khoa học về phát triển bền vững.

    Mở đầu

    Ngày nay, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu và chiến lược của hầu hết các nước trên thế giới. Mỗi nước căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình đề ra chủ trương và chiến lược phát triển với những mục tiêu cụ thể. Để có được những chủ trương, chiến lược phát triển đúng đắn rất cần đến sự đóng góp của Khoa học xã hội. Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện chủ trương và chiến lược phát triển bền vững riêng của mình; trong đó, Khoa học xã hội Việt Nam đã có những đóng góp thiết thực và hiệu quả.

    Quan niệm về phát triển bền vững

    Ngày nay, phát triển bền vững đã trở thành một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn rất quen thuộc đối với các học giả; đồng thời, là chủ đề thời sự được bàn thảo nhiều trên các diễn đàn quốc gia và quốc tế, thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp xã hội.

    Xét về nguồn gốc, thuật ngữ phát triển bền vững ra đời từ những năm 70 của thế kỷ XX và bắt đầu thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu về môi tr­ường và phát triển quốc tế nhờ sự ra đời của công trình Chiến lược bảo tồn thế giới (1980)(1). Sau đó, tư tưởng về phát triển bền vững được trình bày trong một loạt công trình, nh­ư Tương lai chung của chúng ta (1987), Chăm lo cho Trái đất (1991)(2)… Khi nói về sự phát triển bền vững, ng­ười ta thường sử dụng hai định nghĩa đã đ­ược nêu ra trong các cuốn sách nói trên. Trong cuốn T­ương lai chung của chúng ta, phát triển bền vững đư­ợc hiểu là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ t­ương lai; còn trong cuốn Chăm lo cho Trái đất, phát triển bền vững đư­ợc xác định là việc nâng cao chất lượng đời sống con người khi đang tồn tại trong khuôn khổ bảo đảm các hệ sinh thái. Nhìn chung, cả hai định nghĩa đó đều quy phát triển bền vững về việc sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sao cho thế hệ hôm nay phát triển được mà không làm ảnh h­ưởng đến t­ương lai của các thế hệ sau.

    Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển bảo đảm tăng trưởng kinh tế trên cơ sở sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ được môi trường tự nhiên nhằm vừa có thể thỏa mãn được nhu cầu của thế hệ hôm nay, vừa không làm ảnh hưởng đến điều kiện và khả năng thỏa mãn nhu cầu và môi trường sống của các thế hệ mai sau. Nội dung của khái niệm đó phản ánh các mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, giữa con người với con người. Điều đó được thể hiện cụ thể ở chỗ:

    Thứ nhất, để phát triển kinh tế, thỏa mãn những nhu cầu của bản thân mình và xã hội, con người buộc phải khai thác tự nhiên, sử dụng những nguyên vật liệu có sẵn của tự nhiên. Trong lịch sử triết học, đã từng tồn tại 2 lý thuyết nổi tiếng, đó là lý thuyết con người thống trị, làm chủ tự nhiên (lý thuyết chủ đạo của triết học Phương Tây) và lý thuyết con người sống phụ thuộc và hài hòa với tự nhiên (lý thuyết chủ đạo trong triết học Phương Đông). Cả hai lý thuyết đó đều chứa đựng những giá trị tích cực, đồng thời cũng chứa đựng một số bất cập, hạn chế.(2)

    Trên thực tế, con người không bao giờ có thể hoàn toàn thống trị được tự nhiên; đồng thời, con người cũng không thể tồn tại được, chứ chưa nói đến phát triển, nếu không khai thác tự nhiên, không làm chủ tự nhiên. Trong trường hợp thứ nhất, khi nói về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, trong Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844, C.Mác đã từng khẳng định: “Giới tự nhiên… – là thân thể vô cơ của con người. Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên”(3). Thừa nhận và khẳng định quyền năng to lớn của con người trước tự nhiên, song với nhãn quan duy vật biện chứng và tầm nhìn vượt thời đại, Ph.Ăngghen cho rằng chúng ta hoàn toàn không thể thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên; đồng thời, ông cảnh báo con người không nên quá tự hào về thắng lợi của mình đối với giới tự nhiên, bởi mỗi kết quả mà con người coi là một kỳ tích chinh phục tự nhiên, tới một lúc nào đó, có thể gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được(4). Lịch sử phát triển của xã hội loài người kể từ khi xuất hiện nền đại công nghiệp đã chứng minh cho tính đúng đắn và khoa học trong dự báo thiên tài về vấn đề này của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác.

    Trong trường hợp thứ hai, con người cũng không thể tồn tại được, càng không thể thoát khỏi thế giới động vật để trở thành con người theo đúng nghĩa nếu không khai thác và cải biến tự nhiên. Như chúng ta đã biết, trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và khủng hoảng môi trường sống, thay vì tìm kiếm những giải pháp khôn ngoan hơn để vừa bảo đảm sự phát triển của mình, vừa bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường sống, trong những năm qua, một số người muốn phục hồi quan niệm tự nhiên chủ nghĩa về lịch sử dưới một hình thức mang tính cực đoan – trở lại lối sống nguyên thủy, hoang dã kiểu bầy đàn. Về thực chất, đó chỉ là một phản ứng tiêu cực, bởi nó kéo lùi lịch sử trở lại thời kỳ mông muội của loài người, phản ánh sự bế tắc trong quan niệm và lối sống của một nhóm người trước tình trạng môi trường sống bị hủy hoại và có nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng.

    Do đó, một quan điểm đúng đắn, khoa học về phát triển phải là sự tích hợp những giá trị, cách giải quyết hợp lý những bất cập, mâu thuẫn của cả hai lý thuyết nói trên. Quan niệm về phát triển bền vững đã đáp ứng được những yêu cầu bức thiết đó. Theo đó, để tồn tại và phát triển, xét từ phương diện kinh tế, con người phải khai thác tự nhiên, nhưng không phải là sự khai thác tùy tiện, bừa bãi, vô trách nhiệm mà là sự khai thác hợp lý, có trách nhiệmnhằm bảo đảm cho tự nhiên không bị hủy hoại, trái lại tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của con người và xã hội loài người. Nói cách khác, phát triển bền vững thể hiện một sự phát triển mới về chất cả trong nhận thức lẫn hành động của con người, được hình thành một cách tự giác trên cơ sở nhận thức được quy luật khách quan, tất yếu của tự nhiên, trong đó con người và xã hội loài người là một bộ phận không thể tách rời.

    Thứ hai, phát triển bền vững giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người với con người (mối quan hệ giữa các thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau). Theo quan điểm phát triển bền vững, các thế hệ hôm nay có thể khai thác tài nguyên thiên nhiên để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mình, nhưng sự khai thác đó phải làm sao vừa bảo đảm tài nguyên không bị cạn kiệt, vừa có thể bổ sung, tái tạo được để cho các thế hệ tương lai có cơ hội và điều kiện cần thiết nhằm tồn tại và phát triển. Điều đó, một mặt, thể hiện sự công bằng giữa các thế hệ, trách nhiệm của thế hệ hiện tại đối với các thế hệ tương lai; mặt khác, thể hiện thái độ ứng xử văn hóa, đạo đức của thế hệ trước đối với các thế hệ tương lai.(4)

    Cả hai nội dung trên đây thể hiện những quan hệ khác nhau (quan hệ giữa con người và tự nhiên, quan hệ giữa con người với con người), đều biểu thị trách nhiệm của con người với môi trường – ngôi nhà chung và trách nhiệm của mỗi con người với đồng loại. Đây chính là nội dung văn hóa của sự phát triển bền vững.

    Vai trò của khoa học xã hội đối với phát triển bền vững

    Như đã biết, khoa học là một hệ thống tri thức mà nhân loại đã tích lũy được trong suốt quá trình lịch sử. Hệ thống tri thức đó được phân chia thành các lĩnh vực khoa học khác nhau, như khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội, v.v… Theo đó, khoa học xã hội là một hệ thống những tri thức về xã hội và con người. Nhiệm vụ của khoa học xã hội là nghiên cứu nhằm phát hiện quy luật của sự hình thành, phát triển của con người và xã hội loài người, làm rõ quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội và giữa con người với giới tự nhiên.

    Hiện đang có những cách hiểu khác nhau về phân loại khoa học xã hội cũng như mối quan hệ giữa khoa học xã hội và khoa học nhân văn. Ở đây chúng tôi sử dụng thuật ngữ khoa học xã hội theo nghĩa rộng, tức là bao hàm cả các ngành khoa học xã hội và khoa học nhân văn.

    Phải khẳng định rằng, trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, khoa học xã hội có đóng góp ngày càng to lớn vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội nói chung, vào việc xây dựng quan điểm và chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam nói riêng. Điều này được thể hiện ở chỗ:

    Thứ nhất, khoa học xã hội truyền bá những tri thức về phát triển bền vững. Có thể nói, tri thức về phát triển bền vững là thành quả mà nhân loại đã đúc rút và tích lũy trong suốt quá trình phát triển nhiều thế kỷ. Mặc dù thuật ngữ phát triển biền vững mới xuất hiện và được sử dụng rộng rãi từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, nhưng những nội dung cơ bản của nó đã được nhiều học thuyết, nhiều nhà tư tưởng nêu ra trước đó rất lâu. Chẳng hạn, nhiều học thuyết triết học, nhà tư tưởng Phương Đông thời cổ đại đã nói đến sự hài hòa giữa con người và tự nhiên trong quá trình phát triển, khuyên con người phải đối xử công bằng với tự nhiên, coi tự nhiên như thân thể hữu cơ của con người.

    Với tư cách một ngành khoa học về xã hội và con người, khoa học xã hội Việt Nam không ngừng truyền bá những tri thức của nhân loại về phát triển bền vững; đồng thời, luận chứng thêm tính đúng đắn và sự cần thiết phải áp dụng lý thuyết đó vào sự phát triển của Việt Nam. Rất nhiều các nghiên cứu về khoa học xã hội ở Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ XX đã cảnh báo về ô nhiễm môi trường và nạn phá rừng ở Việt Nam; đồng thời, đưa ra những khuyến nghị rằng nếu không chú ý đến vấn đề môi trường, nếu không ngăn chặn nạn chặt phá rừng thì những kết quả của phát triển kinh tế không thể bù đắp được những thảm họa môi trường.

    Thứ hai, một trong những nhiệm vụ quan trọng của khoa học xã hội là góp phần nghiên cứu và cung cấp những luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách phát triển của đất nước. Thực hiện nhiệm vụ đó, trong những năm qua, các ngành khoa học xã hội của Việt Nam đã tích cực tham gia vào việc hoạch định đường lối, chiến lược phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam từ góc độ của mình.

    Nhờ những đóng góp của khoa học xã hội, quan điểm về phát triển bền vững (sau này là nhanh và bền vững) không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Điều đó được thể hiện một cách cụ thể trong các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Trước hết, cần khẳng định rằng, do sớm nhận thức được ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của phát triển bền vững, ở Việt Nam phát triển bền vững được đề ra từ những năm 80 của thế kỷ XX và đã trở thành mục tiêu chiến lược. Cùng với thời gian, khái niệm phát triển bền vững đã có sự thay đổi về nội hàm và ngày càng được bổ sung thêm những nội dung mới.

    Việt Nam đã và đang chủ trương xây dựng chiến lược phát triển nhanh và bền vững phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Chiến lược đó được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định trong Văn kiện Đại hội IX và tiếp tục được phát triển thêm trong các Văn kiện Đại hội X, XI.

    Khi nói về quan điểm phát triển, Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ mục tiêu của sự phát triển là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”; “tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh”(5).

    Chúng ta có thể nhận thấy rằng, trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm phát triển bền vững, ngoài nội dung tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, còn có thêm nội dung mới; đó là kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh. Như vậy, nếu khái niệm phát triển bền vững, theo quan niệm gốc, “kinh điển”, chủ yếu nói đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa người và người trong quan hệ với tự nhiên, thì trong quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững tại Đại hội IX, ngoài quan hệ giữa con người với tự nhiên còn đề cập đến nhiều mối quan hệ xã hội khác, như quan hệ giữa lĩnh vực kinh tế với lĩnh vực xã hội, giữa văn hóa với an ninh – quốc phòng.

    Không dừng lại ở đó, đến Đại hội X, trên cơ sở tổng kết thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên 5 bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó bài học quan trọng đầu tiên là bài học về phát triển nhanh và bền vững. Nội dung bài học đó được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:

    (1) Phát triển nhanh phải đi đôi với tính bền vững. Điều đó phải được kết hợp ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô, ở cả tầm ngắn hạn lẫn dài hạn;

    (2) Tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế;

    (3) Trong khi khai thác các yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu tố phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức;

    (4) Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo;

    (5) Phải coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển;

    (6) Phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, coi đây là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững(6).

    Cùng với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam hiện nay. Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ quan điểm về phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó khẳng định phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững là nội dung quan trọng hàng đầu: “Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững. Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững”(7).

    Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 được Đại hội lần thứ XI của Đảng thông qua, quan điểm về phát triển bền vững tiếp tục được cụ thể hóa; trong đó, khẳng định trước hết cần tập trung thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

    (1) Kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đất nước. Đây là điều kiện tiên quyết nhất cho sự phát triển nhanh và bền vững;

    (2) Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế; giữ vững an ninh lương thực, năng lượng và sự hoạt động an toàn, hiệu quả của các định chế tài chính;

    (3) Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đảm bảo đạt tốc độ tăng trưởng cao, đồng thời nâng cao chất lượng tăng trưởng;

    (4) Phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển. Bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người dân trong việc thụ hưởng các thành tựu phát triển, nhất là các dịch vụ cơ bản và phúc lợi xã hội;

    (5) Không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi, nhất là dân chủ trực tiếp, xây dựng xã hội đồng thuận, cởi mở và đoàn kết;

    (6) Tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường.

    Có thể nói, đây là những nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam. Chiến lược đó thể hiện khá rõ sự kết hợp giữa quan điểm truyền thống, kinh điển với quan điểm mới, riêng của Việt Nam. Trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy:

    (1) Yếu tố ổn định chính trị – xã hội được xem là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững. Những sự kiện chính trị ở một số nước trên thế giới hiện nay đã chứng minh rằng, nếu không có sự ổn định về chính trị thì không thể nói đến phát triển, chứ chưa nói đến phát triển bền vững.

    (2) Chiến lược phát triển nhanh, bền vững tập trung nâng cao chất lượng phát triển, kết hợp giữa phát triển kinh tế với việc phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, với việc coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển. Nói cách khác, chiến lược phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam hướng tới đồng thời cả 3 mục tiêu kinh tế, xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường.

    (3) Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam đã đề cập một cách khá toàn diện các khía cạnh khác nhau của sự phát triển, trong đó nổi lên việc giải quyết hài hòa các mối quan hệ,như sự hài hòa giữa phát triển nhanh và bền vững, giữa tăng trưởng về số lượng và nâng cao chất lượng, giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu; sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ và cải thiện môi trường, v.v.. Do vậy, có thể khẳng định rằng, hài hòalà một trong những nội dung quan trọng của chiến lược phát triển bền vững.

    (4) Vấn đề trọng tâm, mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển bền vững chính là vấn đề dân sinh. Các nội dung của chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam vừa trình bày ở trên, một cách trực tiếp hay gián tiếp, xét đến cùng, không hướng đến mục tiêu nào khác hơn là vì con người, cho con người. Chiến lược phát triển nhanh và bền vững đã chú trọng đến chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế, những mục tiêu của sự tăng trưởng hướng tới sự phát triển toàn diện của con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, với việc coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển. Rõ ràng, với những nội dung cơ bản đó, chiến lược phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam hướng tới mục tiêu tối thượng là chất lượng sống của con người cả trong hiện tại lẫn tương lai, giải quyết ngày càng tốt hơn vấn đề dân sinh, bảo đảm cho mọi người dân có cuộc sống đầy đủ, ấm no và hạnh phúc; làm cho tất cả mọi người được giàu có về đời sống vật chất và phong phú về đời sống tinh thần. Trên thực tế, chiến lược phát triển nhanh, bền vững là phương thức hữu hiệu bảo đảm cho sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”.

    Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ những mục tiêu chủ yếu về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường theo hướng phát triển bền vững. Về kinh tế: phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7 – 8%/năm; GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD; giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP; giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 2,5 – 3%/năm; thực hành tiết kiệm trong sử dụng mọi nguồn lực, nhất là nguồn tài nguyên thiên nhiên. Về văn hóa, xã hội: xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh; đến năm 2020, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,5 – 2%/năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm; phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật. Về môi trường: tiếp tục cải thiện chất lượng môi trường; đến năm 2020, hầu hết dân cư được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh; các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường; cải thiện và phục hồi môi trường ở những khu vực bị ô nhiễm nặng; hạn chế tác hại của thiên tai; chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng(8). Đó là những mục tiêu cụ thể nhằm từng bước hiện thực hóa chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XXI.

    Trong bối cảnh mới, để thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển nhanh và bền vững, chúng ta cần tiếp tục tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức, đổi mới mạnh mẽ về tư duy phát triển, quán triệt trong mọi chính sách, kế hoạch, dự án và chương trình hành động; tổ chức thực hiện rộng khắp ở tất cả các cấp, các ngành với sự đồng thuận tham gia của cả hệ thống chính trị, của cộng đồng các chủ thể kinh tế và mọi công dân.

    Thứ ba, khoa học xã hội xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học xã hội cho sự phát triển bền vững của đất nước. Nguồn nhân lực khoa học xã hội, theo nghĩa rộng, chính là những con người có hiểu biết khoa học xã hội, hiểu biết tri thức về phát triển bền vững. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực khoa học xã hội là những người chuyên làm công tác nghiên cứu và giảng dạy về phát triển bền vững ở các viện, trung tâm nghiên cứu, trường… Nguồn nhân lực này được xem là một trong những vốn cơ bản nhất cho sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần đưa quan điểm, chủ trương phát triển bền vững vào thực tiễn cuộc sống. Thực tế cho thấy, trong những năm qua ở Việt Nam, nhiều khoa, viện, trường có chức năng nghiên cứu về phát triển bền vững; nhiều chương trình, tri thức về phát triển bền vững được đưa vào giảng dạy tại Việt Nam.

    Thứ tư, khoa học xã hội thực hiện vai trò tham mưu, tư vấn, phản biện cho các chủ trương, chính sách góp phần bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Tham mưu, tư vấn, phản biện là chức năng vốn có của các ngành khoa học nói chung và khoa học xã hội nói riêng. Thực tế cho thấy, từ khi đổi mới đến nay, vai trò tham mưu, tư vấn, phản biện của khoa học xã hội ngày càng được đề cao. Những đường lối, chủ trương, chính sách về phát triển đất nước nói chung, về phát triển bền vững nói riêng đã và đang được tiến hành lấy ý kiến đánh giá, thẩm định và phản biện từ các nhà khoa học. Nhờ đó, các quan điểm, chủ trương, chính sách về phát triển bền vững ngày càng có chất lượng hơn, sát hợp với thực tiễn cuộc sống hơn.

    Thứ năm, khoa học xã hội Việt Nam góp phần tiếp thu các tri thức khoa học xã hội mới của các trường phái, trào lưu trên thế giới; đồng thời góp phần quảng bá, chia sẻ tri thức về phát triển bền vững của Việt Nam với các học giả trong khu vực trên thế giới. Trên phương diện này, khoa học xã hội đóng vai trò cầu nối tạo cơ hội cho việc giao lưu, học hỏi những kinh nghiệm và tri thức khoa học về phát triển bền vững giữa các học giả trong nước và các học giả nước ngoài. Sự giao lưu, học hỏi là hết sức cần thiết để có được những quan điểm riêng, phù hợp với đặc điểm và điều kiện của từng nước.

    Kết luận

    Từ những điểm mà chúng tôi đã trình bày ở trên, có thể khẳng định rằng, khoa học xã hội có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới (1986) đến nay. Vai trò của khoa học xã hội được thể hiện cụ thể trên 5 khía cạnh:

    (1) Tuyên truyền và phổ biến rộng rãi những tri thức về phát triển bền vững;

    (2) Xây dựng và cung cấp những luận cứ khoa học về phát triển bền vững;

    (3) Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học xã hội về phát triển bền vững;

    (4) Tham mưu, tư vấn và phản biện các chủ trương, chính sách về phát triển bền vững;

    (5) Tiếp thu và trao đổi tri thức khoa học về phát triển bền vững.

    Tác giả: GS.TS. Phạm Văn Đức

    Chú thích

    (1) Xem: IUCN (1980), World conservation strategy: Living resource conservation for sustainable development. IUCN, Gland, Switzeland.

    (2) (1987), World Commission on Environment and Development. Our common future. Oxford University Press, Oxford and New York; IUCN/UNEP/WWF (1991), Caring for the earth: A strategy for sustainable living. IUCN, Gland, Switzeland.

    (3) C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.135.

    (4) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen,sđd, t.20, tr.654.

    (5) Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.162, 89.

    (6) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.178 – 179.

    (7) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.99.

    (8) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr.103 – 106.

    (Nguồn: Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam (số 2 – 2015))

Trả lời