Luật pháp Trung Quốc ảnh hưởng lên hoạt động kinh doanh quốc tế?

Câu hỏi

Ảnh hưởng của môi trường luật pháp Trung Quốc lên hoạt động kinh doanh quốc tế.

Ai giúp em với. Trả lời càng chi tiết về các bộ luật của Trung Quốc càng tốt ạ.

Kinh doanh quốc tế

Đang trả lời 0
tiennguyen1414 3 tháng 3 Câu trả lời 169 lượt xem 0

Câu trả lời ( 3 )

  1. Luật Đầu tư nước ngoài của Trung Quốc: Điểm mới và tính khả thi

    Ngày 15/3/2019, Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân dân Trung Quốc khóa XIII đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài của nước Công hòa nhân dân Trung Quốc (viết tắt Luật ĐTNN), thay thế ba luật hiện hành.

    Đó là Luật doanh nghiệp liên doanh giữa Trung Quốc với nước ngoài, Luật doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và Luật hợp đồng kinh doanh giữa Trung Quốc với nước ngoài, có hiệu lực từ ngày 1/1/2020.

    Bối cảnh trong nước và quốc tế

    Luật ĐTNN ra đời trong bối cảnh nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang trong giai đoạn giảm sút tốc độ tăng trưởng, tỷ giá hối đoái biến đồng lớn, dự trữ ngoại tệ giảm, thị trường bất động sản bất ổn, một số doanh nghiệp FDI chuyển về nước hoặc sang nước khác.

    Trong tình trạng số liệu thống kê chính thức của Trung Quốc được coi là không đáng tin cậy, một số nhà kinh tế thế giới thông qua nghiên cứu điều kiện tăng trưởng như hệ số tiêu hao năng lượng, tín dụng doanh nghiệp đã nhận định: Trung Quốc đang đối mặt với giai đoạn tăng trưởng rất thấp, chỉ 1-2%/năm với hậu quả rất nghiêm trọng. Đây là lần sụt giảm tồi tệ nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, khi Ngân hàng quốc gia Trung Quốc phải bơm hàng nghìn tỷ USD để cứu nền kinh tế.

    Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Zhong Shan cho biết, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc năm 2018 đạt 135 tỷ USD, tăng 3%, thấp hơn mức 7,9% của năm 2017 và 4,1% của năm 2016. Nhà kinh tế học Anh Diana Choyleva dự báo: tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ giảm xuống mức thấp hơn giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

    Luật ĐTNN ra đời khi Trung Quốc đang đối mặt với nhiều thách thức lớn trong quan hệ quốc tế, nổi bật là cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung đang ở vào giai đoạn gay cấn. Đầu tư và thương mại quốc tế có quan hệ hữu cơ với nhau, hình thành mối quan hệ kinh tế đối ngoại chủ yếu giữa hai quốc gia. Chiến lược đầu tư và thương mại của các nước lớn thay đổi tùy thuộc vào tương quan sức mạnh kinh tế giữa các quốc gia trong từng giai đoạn. Từ khi Trung Quốc trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới thì quan hệ Mỹ – Trung về thương mại và đầu tư đóng vai trò quan trọng nhất, chi phối xu hướng phát triển kinh tế thế giới.

    Năm 1979 hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Kim ngạch xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc tăng từ mức 5,7 tỷ USD năm 1989 lên 7,4 tỷ USD năm 1992, 19,1 tỷ USD năm 2001 và 69,7 tỷ USD năm 2008; trong cùng thời kỳ, của Trung Quốc sang Mỹ tăng từ 12 tỷ USD lên 25,7 tỷ USD, 102,7 tỷ USD và 337,7 tỷ USD. Xuất siêu của Trung Quốc với Mỹ năm 2008 là 235 tỷ USD.

    Sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, quan hệ thương mại song phương vẫn phát triển. Năm 2015 kim ngạch thương mại hai chiều đạt 659,4 tỷ USD. Trung Quốc nắm giữ khoảng 1,8 nghìn tỷ USD nợ quốc gia Mỹ, hơn 20 nghìn doanh nghiệp Mỹ đã đầu tư tại Trung Quốc.

    Với phương châm: “Nước Mỹ trước hết” Tổng thống Donald Trump đã áp dụng chính sách cứng rắn đối với Trung Quốc. Ngày 22/3/2018 Tổng thống Mỹ đã ra lệnh áp dụng mức thuế 50 tỷ USD đối với hàng hóa Trung Quốc, là “một phản ứng đối với các hoạt động thương mại không công bằng của Trung Quốc trong những năm qua”, bao gồm cả hành vi ăn cắp sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ. Ngày 2/4/2018, Bộ Thương mại Trung Quốc đã áp thuế 25% đối với 128 sản phẩm của Mỹ bao gồm phế liệu nhôm, máy bay, ô tô, sản phẩm thịt lợn và đậu nành, 15% đối với trái cây, hạt và ống thép. Ngày 5/4/2018, D. Trump đã ra lệnh đánh thuế bổ sung đối với 100 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc.

    Từ cuối năm 2018 đã diễn ra nhiều vòng đàm phán thương mại giữa hai nước nhưng hai bên còn bất đồng nhiều nội dung quan trọng; do đó, ngày 10/5/2019 Mỹ nâng thuế từ 10% lên 25% đối với 200 tỷ USD và đang xúc tiến quy trình áp thuế 25% lên khoảng 325 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc.

    Luật ĐTNN ra đời trong giai đoạn quan hệ Mỹ- Trung liên tục được điều chỉnh, thăng trầm theo thời gian, lúc căng thẳng, lúc lắng dịu, khó dự báo triển vọng trong ngắn hạn; bởi vì như một số chuyên gia kinh tế đã bình luận, cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung hiện nay chỉ là bề nổi của tảng băng, có liên quan đến nhiều vấn đề quan trọng như quyền sở hữu trí tuệ, tỷ giá hối đoái giữa USD với Nhân dân tệ, trợ giá đối với doanh nghiệp nhà nước; thực chất là mâu thuẩn lợi ích giữa hai quốc gia kể từ khi Trung Quốc có sức mạnh kinh tế đủ thách thức Mỹ trên phạm vi toàn cầu.

    Những nội dung chủ yếu

    Thông thường, tiến trình xây dựng luật của Trung Quốc diễn ra vài ba năm mới kết thúc, nhưng Luật ĐTNN chỉ mất 3 tháng. Đó là một thời gian ngắn kỷ lục.

    Những nhà lãnh đạo Trung Quốc truyền đi thông điệp: Luật ĐTNN góp phần tạo ra một sân chơi bình đẳng cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, qua đó đánh dấu một bước đi quan trọng hướng tới xoa dịu căng thẳng thương mại giữa Bắc Kinh và Washington.

    Điểm nổi bật của Luật ĐTNN là quy định cấm các hành vi cưỡng ép công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ cho công ty Trung Quốc. Đây là câu trả lời của Trung Quốc trước các áp lực và cáo buộc về việc hành xử không theo thông lệ quốc tế và hành vi đánh cắp sở hữu trí tuệ của Mỹ mà theo đánh giá của Mỹ, mỗi năm thiệt hại đến trăm tỷ USD.Luật ĐTNN gồm 6 chương đề cập tới những vấn đề như xúc tiến đầu tư, bảo hộ đầu tư, quản lý đầu tư nước ngoài của Chính phủ và trách nhiệm pháp lý. Luật ĐTNN điều chỉnh hoạt động đầu tư của các cá nhân, công ty và tổ chức nước ngoài, bao gồm cả liên doanh giữa nước ngoài với công ty Trung Quốc.

    Điều 22 của Luật ĐTNN quy định:“Chính phủ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư và các công ty nước ngoài. Các tổ chức Trung Quốc không được sử dụng các biện pháp hành chính để bắt buộc chuyển giao công nghệ”.

    Luật ĐTNN kỳ vọng giải quyết được những mối quan tâm lớn nhất của các công ty nước ngoài như xử lý vấn đề tài sản trí tuệ, yêu cầu các công ty nước ngoài hợp tác với một công ty địa phương và tình trạng trợ cấp thiên vị cho các công ty Trung Quốc. Luật cũng sẽ giải quyết tình trạng ưu ái các công ty Trung Quốc trong việc trao hợp đồng và tình trạng buộc các công ty nước ngoài phải trao các bí mật công nghệ như một vé vào cổng thị trường lớn của Trung Quốc.

    Phát ngôn viên của Quốc hội Trung Quốc Zhang Yesui cho rằng: “Đây là một cuộc cải cách cơ bản về hệ thống quản lý đầu tư nước ngoài của chúng ta để tăng độ mở, minh bạch và khả năng dự báo”.

    Luật ĐTNN cũng có các điều khoản ngăn cấm các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào 48 lĩnh vực như thị trường đánh cá, nghiên cứu gen, giáo dục tôn giáo, phương tiện truyền thông, phát sóng truyền hình…

    Đối với lĩnh vực tài chính, Luật ĐTNN tiếp tục đưa ra các quy định riêng đối với công ty nước ngoài khi đầu tư vào ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm.

    Luật ĐTNN quy định Chính phủ có quyền kiểm soát cổ đông nước ngoài nếu như lợi ích công bị đe dọa, kiếm tra doanh nghiệp nước ngoài nếu như hoạt động của doanh nghiệp này ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

    Luật ĐTNN quy định: nếu bất kỳ quốc gia hoặc khu vực nào đưa ra lệnh cấm mang tính phân biệt đối xử lên hoạt động đầu tư Trung Quốc thì Trung Quốc có thể thực hiện các biện pháp đáp trả tương xứng.

    Liên quan đến việc Trung Quốc ban hành Luật ĐTNN có hai điều cần được các nhà làm luật nước ta lưu ý: 1) Chỉ trong thời gian ba tháng thay vì vài ba năm như trước đây. Trong thế giới đầy biến động khó lường thì việc điều chỉnh luật pháp của mỗi quốc gia là cần thiết để ứng phó kịp thời và có kết quả với bối cảnh mới về chính trị và kinh tế toàn cầu. Mỹ và các quốc gia phương Tây tiếp cận cách xây dựng luật pháp như vậy, do đó có khi trong một ngày đã ban hành luật mới chỉ với một vài nội dung cần thiết. Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và nhiều luật khác nhưng phải mất nhiều năm mới được Quốc hội thông qua, trong khi cuộc sống đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn. 2) Có hiệu lực từ đầu năm 2020 mà không cần nghị định, thông tư hướng dẫn. Đây cũng là điều mà Việt Nam cần nghiên cứu áp dụng để không kéo dài tình trạng luật đã có hiệu lực thi hành nhưng vì chưa có nghị định, thông tư hướng dẫn nên vẩn chưa điều chính được hoạt động kinh tế- xã hội.

    Tính khả thi

    Ngày 15/3/2018, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường cho rằng: “Luật mới sẽ là tiêu chuẩn cho các hành động của Chính phủ, là căn cứ để các quan chức Trung Quốc hành xử một cách hợp pháp và sẽ có thêm nhiều biện pháp được đưa ra để bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài”. Ông khẳng định luật sẽ được áp dụng ở cả Hongkong, Macao và Đài Loan.

    Ngày 13/3/2018 Nhân dân Nhật báo bản Hải ngoại đưa ra 5 tín hiệu tích cực từ Luật ĐTNN: 1) Trung Quốc tích cực chủ động trong việc thực hiện chính sách mở cửa, dần hình thành bố cục mới nhằm mở cửa toàn diện đa phương, nhiều tầng và nhiều lĩnh vực. 2) Sức hút từ thị trường trong nước của Trung Quốc là vô vùng to lớn để các nước có thể mở rộng cơ hội kinh doanh. 3) Môi trường đầu tư kinh doanh tại Trung Quốc sẽ tiếp tục ngày càng hoàn thiện. Trung Quốc có khả năng nói được và làm được trong việc xây dựng môi trường kinh doanh hàng đầu trên thế giới. 4) Việc thúc đẩy mở cửa của Trung Quốc không chỉ nhằm mục đích phát triển cho bản thân Trung Quốc mà cũng đem lại lợi ích to lớn cho thế giới. 5) Không thể bỏ lỡ cơ hội cùng xây dựng sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI). Đã có 123 quốc gia và 29 tổ chức quốc tế ký kết văn kiện hợp tác cùng xây dựng BRI.

    Trong bối cảnh hai cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới đang đối đầu với cuộc chiến thương mại liệu 5 tín hiệu tích cực trên đây có mang lại kết quả như Bắc Kinh mong muốn không (?).

    Nhiều người trong cộng đồng doanh nghiệp ở Trung Quốc coi luật này là một danh sách các kiến nghị hơn là một bộ quy tắc cụ thể, có thể thi hành được.

    Chuyên gia kinh tế trưởng tại Aberdeen Standard Investments, Jeremy Lawson, tỏ ra lạc quan một cách thận trọng: “Quốc hội Trung Quốc không dự định giải quyết tất cả những thách thức dài hạn của Trung Quốc. Đây là một dự án kéo dài nhiều năm. Thế nhưng, các tín hiệu tăng trưởng tương lai có thể đang được cải thiện”.

    Phòng Thương mại Liên minh châu Âu (EU) tại Trung Quốc tuyên bố: “Với việc thông qua nhanh như thế này, có lẽ Trung Quốc chưa xét tới các quan điểm của các công ty nước ngoài trong phiên bản cuối cùng. Ngoài ra, việc không đưa ra lý do giải thích cho tình trạng gấp rút thông qua luật làm dấy lên câu hỏi về việc Trung Quốc thi hành luật pháp”.

    Những diễn biến gần đây tại cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung về các vấn đề sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ ép buộc, rào cản phi thuế quan, nông nghiệp, dịch vụ, mua hàng và cơ chế giám sát thực thi đã không đạt được thỏa thuận cuối cùng.

    Ngày 15/5/2019, Tổng thống Mỹ ký sắc lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp đối với công nghệ thông tin và viễn thông do nước ngoài thiết kế, phát triển, sản xuất hoặc cung ứng; trao quyền cho Bộ trưởng Thương mại Mỹ trong việc ngăn chặn bất kỳ giao dịch nào có nguy cơ gây rủi ro cho các công nghệ và dịch vụ viễn thông hoặc công nghệ thông tin.

    Mặc dù trong sắc lệnh khẩn cấp không nếu đích danh quốc gia nào, nhưng Quốc hội và Tổng thống Mỹ đã công khai coi ZTE và Huawei, hai tập đoàn viễn thông khổng lồ của Trung Quốc là mối đe dọa tiềm tàng đối với Mỹ, nhất là liên quan tới công nghệ 5G.

    Bộ Thương mại Mỹ cho biết sẽ đưa công ty Huawei Technologies và 70 chi nhánh vào danh sách đen, trong đó cấm các đơn vị này mua các thiết bị và công nghệ từ các công ty Mỹ nếu chưa được sự chấp thuận của Chính phủ Mỹ.

    Mỹ cũng gây sức ép đối với nhiều quốc gia đồng minh như Canada, Đức, Anh, Pháp không được hợp tác với những công ty công nghệ của Trung Quốc nằm trong danh sách đen của Bộ Thương mại Mỹ.

    Nhiều chuyên gia kinh tế dự báo rằng, cuộc chiến tranh thương mại Mỹ- Trung sẽ tiếp diễn với những hậu quả khủng khiếp, vì trong khi Mỹ áp dụng những biện pháp cứng rắn, thì Trung Quốc sẵn sàng đối đầu bằng các biện pháp đáp trả cần thiết. Do vậy, khó có thể đặt nhiều hy vọng vào việc thực thi nghiêm túc Luật ĐTNN của nước CHND Trung Hoa.

    Theo GS.TSKH NGUYỄN MẠI
    Nguồn: nhadautu.vn

  2. Luật pháp và Sức mạnh trong Quan hệ Quốc tế của Trung Quốc

    Bài viết này đưa ra những đánh giá cấp thiết, cập nhật về việc Trung Quốc sử dụng luật pháp quốc tế trong quan hệ quốc tế – một trong những đề tài quan trọng và được tranh luận nhiều nhất trên thế giới hiện nay. Bài viết này phân tích một chuỗi các vấn đề nổi cộm của Trung Quốc trên lý thuyết cũng như trong thực tiễn, bao gồm thực tiễn tại WTO của Trung Quốc, tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp biển, các hiệp định song phương về quyền dân sự, chính trị và các hiệp định đa phương. Một trong những phát hiện của tôi là trật tự dựa trên luật lệ hiện tại không thể thực sự kiềm chế một cách đáng kể sức mạnh đang ngày một lớn của Trung Quốc, và tôi cho rằng lập trường hiện nay của Bắc Kinh về luật pháp quốc tế (mà trước nay thay đổi chậm chạp theo từng vấn đề một), có thể đang trong quá trình chuyển dịch, từng bước tiến đến một cách tiếp cận ngày càng sáng tạo, bao quát hơn.

    Cách tiếp cận này sẽ định hình luật pháp quốc tế theo cách mà một số ý kiến cho rằng sẽ khởi đầu cho sự quay trở lại của nền bá chủ Trung Quốc tại Đông Á như trong lịch sử, còn một số nhà quan sát khác thì lo ngại rằng xu hướng này thậm chí còn thể hiện những tham vọng vĩ cuồng hơn. Tuy nhiên, sức mạng ngày càng lớn của Trung Quốc không phải là bất biến như chúng ta vẫn nghĩ, và chúng ta cũng không nên bỏ qua thực tế là quan điểm của Trung Quốc cũng phần nào bị tác động bởi những tương tác của nước này với Mỹ cũng như cách mà nước này nhìn nhận việc Mỹ ứng xử với luật pháp quốc tế trong thực tiễn.

    GIỚI THIỆU

    Để đánh giá mối quan hệ giữa luật pháp và sức mạnh trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc là một việc phức tạp bởi Trung Quốc có nhiều giai đoạn căng thẳng và nhiều cuộc đấu tranh khác nhau. Tuy nhiên, trong những thập kỷ sau khi Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) gia nhập Liên Hợp Quốc vào năm 1971 và đặc biệt là từ sau khi chủ tịch Mao qua đời cùng với sự kết thúc của Đại Cách mạng Văn hoá vào năm 1976, Bắc Kinh nhìn chung chưa thể hiện thách thức gì đối với các giá trị phương Tây hoặc các giá trị phổ quát được thể hiện trong công pháp quốc tế.

    Trên lý thuyết, nhìn chung Trung Quốc đã công nhận công pháp quốc tế, bao gồm nhiều tập quán quốc tế, hiệp định song phương và đa phương, các văn bản, học thuyết, tiêu chuẩn và thể chế luật pháp khác. Điều này đối lập rõ rệt so với cách mà chính quyền của ông Tập Cận Bình thường xuyên thoái thác các khái niệm chính thống liên quan tới nhà nước pháp quyền và tìm cách nhấn mạnh vào “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đặc sắc Trung Quốc”.

    Bài viết sẽ tập trung vào một số khía cạnh của việc Trung Quốc, trong thực tiễn, tôn trọng đến đâu những hạn chế mà luật quốc tế đặt ra cho việc thực thi sức mạnh quốc gia của họ. Bài viết sẽ kết luận bằng cách đặt ra câu hỏi liệu sau khi xem xét các vấn đề trong bài viết, ta có thể đánh giá chính quyền Tập Cận Bình, trong nhiệm kỳ thứ 2, trên thực tế đã bắt đầu thách thức hệ thống luật pháp quốc tế phương Tây, được xây dựng từ Hoà ước Westphalia, giống như cái cách mà trong nhiệm kỳ đầu, nước này đã thách thức những quy tắc về nhà nước pháp quyền của phương Tây vốn đã được chấp nhận rộng rãi hay không?

    I. MỘT SỐ THÔNG TIN CƠ BẢN

    Từ khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) năm 1949 cho đến năm 1971, Bắc Kinh đã thường xuyên bác bỏ những quan điểm quốc tế phổ quát về công pháp quốc tế, cả trên lý thuyết lẫn trong thực tiễn. Đây là sự đáp trả dễ hiểu cho việc cộng đồng thế giới không chấp nhận chính phủ mới sau cách mạng của Trung Quốc. Ngay sau khi thành lập, khi CHNDTH tìm cách thay thế nhà nước Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch trong vai trò là đại diện của nhà nước Trung Quốc ở Liên Hợp Quốc (LHQ), thì đơn gia nhập của họ đã bị cự tuyệt, mặc dù thực tế là chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đã bỏ chạy khỏi Trung Quốc đại lục sang Đài Loan, để lại cho CHNDTH gần như toàn quyền đối với Trung Quốc đại lục.

    Sự tham gia của “Chí nguyện quân Nhân dân” CHNDTH vào xung đột ở bán đảo Triều Tiên, theo phe Triều Tiên để chống lại LHQ vào mùa thu 1950 càng làm cô lập CHNDTH với LHQ – tổ chức quốc tế mà đứng đằng sau là Mỹ. Ngay cả sau Hiệp định Đình chiến Triều Tiên năm 1953, khi CHNDTH thực thi “năm nguyên tắc chung sống hòa bình” và một chính sách đối ngoại ôn hòa hơn, LQH vẫn không chấp nhận sự tham gia của Bắc Kinh. Hơn nữa, hầu như các cường quốc phương Tây vẫn từ chối công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao song phương với Bắc Kinh.

    Dễ hiểu là, trong những bối cảnh đó CHNDTH không chỉ lên án cách áp dụng luật pháp quốc tế của phương Tây là mang tính thao túng và đạo đức giả mà đôi khi còn bác bỏ cả khái niệm về một cộng đồng thế giới duy nhất và một hệ thống công pháp quốc tế đơn nhất có tính ràng buộc. Một số thời điểm Bắc Kinh còn ủng hộ thành lập một tổ chức quốc tế mới nhằm cạnh tranh với LHQ. Ngoài ra, dưới sự ảnh hưởng của một vài học giả pháp lý Xô Viết, một số chuyên gia nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc thậm chí còn chấp nhận học thuyết rằng có ba hệ thống công pháp quốc tế – một điều chỉnh quan hệ quốc tế giữa các nước tư sản, một điều chỉnh quan hệ quốc tế giữa các nước cộng sản, và một điều chỉnh quan hệ giữa các nước tư sản và các nước cộng sản!

    May mắn thay, những sự không phù hợp về thể chế và ý thức hệ đã bắt đầu biến mất với sự kết thúc của thời kỳ khắc nghiệt nhất trong cuộc Đại Cách mạng Văn hoá vào mùa thu năm 1969, khi Bắc Kinh tái khởi động nỗ lực gia nhập LHQ và bình thường hoá quan hệ song phương với các cường quốc. Tuy nhiên, bất chấp sự kiện mang tính đột phá khi Canada Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1970 và sự kiện CHNDTH gia nhập LHQ vào năm tiếp theo, các lãnh đạo Trung Quốc, khi đó vẫn đang bận giải quyết những cuộc đấu đá chính trị nội bộ khốc liệt trong những năm cuối thời kỳ cầm quyền của Chủ tịch Mao, tỏ ra tiếp tục không tin tưởng vào các thể chế của LHQ và luật pháp quốc tế phổ quát. Hơn nữa, ít nhất là cho đến giữa thập niên 70, ảnh hưởng của cuộc Đại Cách mạng Văn hoá lên hệ thống giáo dục, nghiên cứu và công chức Trung Quốc đã khiến cho nhiều nhà ngoại giao và quan chức CHNDTH không được trang bị tốt để xử lý các yêu cầu pháp lý mà tình hình mới đặt ra.

    Hai câu chuyện cá nhân của tôi thể hiện rõ những điểm này. Vào ngày 16/6/1972, cùng với đồng nghiệp của tôi là Giáo sư John Fairbank từ Đại học Harvard, Harrison Salisbury của tờ New York Times và những người khác, tôi tham gia vào một cuộc ăn tối-thảo luận dài bốn tiếng cùng với Thủ tướng Chu Ân Lai và các cố vấn chính sách đối ngoại quan trọng của ông. Thấy rằng nửa đầu của cuộc thảo luận có vẻ thuận lợi khi nội dung xoay quanh mối quan hệ Trung-Mỹ và cuộc chiến tại Việt Nam, tôi quyết định hỏi về thái độ hiện nay của chính phủ Trung Quốc với luật pháp quốc tế. Tôi giới thiệu chủ đề bằng cách gợi ý rằng CHNDTH, vừa trở thành thành viên quan trọng tại Liên Hợp Quốc với chiếc ghế thường trực, có quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an, cũng nên xem xét việc đề cử một chuyên gia để đảm nhiệm vai trò thẩm phán tại Toà án Công lý quốc tế (ICJ) ở La Hague. Gợi ý này nhận ngay một tràng cười rộ lên từ các quan chức Trung Quốc, những người nghĩ rằng đó là một đề nghị ngớ ngẩn. Họ thắc mắc là vì sao CHNDTH lại muốn có một vị trí trong 15 ghế thành viên ICJ, nơi mà họ chắc chắn rằng hầu hết các thẩm phán còn lại sẽ có thành kiến và không đồng tình với ý kiến của một nước theo chế độ cộng sản tới từ Châu Á? Hơn nữa, như sau đó đã trở nên rõ ràng hơn, CHNDTH có truyền thống không tin tưởng việc giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua phân xử, trọng tài và các hình thức khác trong giải quyết tranh chấp dựa vào bên thứ ba. Bất chấp việc hàng ngàn năm qua Trung Quốc đã sử dụng hình thức trung gian cho các tranh chấp trong nước, nhưng họ từ chối sử dụng biện pháp trung gian có sự tham gia của bên thứ ba, dù với vai trò rất hạn chế đi nữa, trong giải quyết tranh chấp quốc tế.

    Tôi vẫn giữ lập trường của mình, giải thích rằng với các thành viên thường trực của Hội đồng bảo an, việc có được một ghế thẩm phán ICJ là một trong những đặc quyền của việc trở thành một cường quốc thế giới và rằng CHNDTH không nên bỏ lỡ cơ hội này. Hơn một thập kỷ trôi qua trước khi Bắc Kinh cuối cùng cũng cử thẩm phán đầu tiên tới ICJ. Vị thẩm phán này và những thẩm phán sau đó mà Trung Quốc cử đến ICJ đều có trình độ rất tốt.

    Một trong những lý do mà quá trình này kéo dài như vậy là vì CHNDTH lúc đó không đủ số lượng các chuyên gia cần thiết về luật pháp quốc tế để đảm nhiệm các vị trí quan trọng mà sự chấp nhận muộn màng của cộng đồng thế giới yêu cầu. Vào năm 1973, hai năm sau khi Bắc Kinh gia nhập LHQ, nước này vẫn thiếu nhân sự được đào tạo đáp ứng yêu cầu công tác tại đây. Thời điểm đó, đại diện thường trực của CHNDTH ở LHQ, một vị Đại sứ rất có năng lực tên là Huang Hua, kể với tôi ông đã xấu hổ ra sao, khi bởi vì thiếu nhân sự đủ điều kiện để trám vào vị trí của Uỷ ban thứ 6 Hội đồng bảo an chịu trách nhiệm về vấn đề pháp lý, ông phải nhờ vợ mình, người chỉ được học về kinh tế, đảm nhiệm vị trí đó!

    II. TÌNH HÌNH HIỆN NAY

    Hơn 45 năm sau đó, tình hình đã rất khác. CHNDTH đã xây dựng được đội ngũ chuyên gia rất có năng lực trong lĩnh vực công pháp quốc tế. Các trường luật và khoa học chính trị có các giáo trình chi tiết về chủ đề này, được xây dựng bởi các chuyên gia được đào tạo tốt, nhiều người trong đó được học tập và nghiên cứu, thậm chí được mời giảng dạy trong các tổ chức học thuật hàng đầu thế giới. Những học giả này và các đồng nghiệp từ các tổ chức nghiên cứu và chính sách thường xuất bản các phân tích trong sách, tạp chí học thuật và các bài bình luận trên truyền thông, không chỉ bằng tiếng Trung mà còn bằng tiếng Anh và các ngôn ngữ khác, và cũng là thành viên tích cực của các hội nghị và đối thoại phi chính phủ về luật pháp quốc tế. Thêm nữa, họ thường xuyên đưa ra lời khuyên cho nhiều cơ quan chính phủ Trung Quốc.

    (Nguồn: nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-trung-quoc/7250-luat-phap-va-suc-manh-trong-quan-he-quoc-te-cua-trung-quoc)

  3. Ảnh hưởng của môi trường pháp luật trong kinh doanh quốc tế

    TS. ĐỖ THỊ LOAN

    Trước trào lưu hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều cơ hội để phát triển song cũng gặp không ít khó khăn. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường quốc tế phải đối mặt với vô số những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của mình. Một trong những yếu tố nan giải nhất là pháp luật. Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh doanh quốc tế phụ thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểu các chính sách, các luật lệ của nước sở tại hay không. Cho dù doanh nghiệp đóng ở đâu cũng bị ảnh hưởng của hệ thống luật pháp và các chính sách của chính phủ nước đó.

    Thất bại trong việc nghiên cứu yếu tố môi trường pháp luật và các ảnh hưởng của nó đến các hoạt động kinh doanh của mình sẽ dẫn đến những hậu quả không lường trên thị trường quốc tế. Trên thực tế đã có nhiều bài học đau đớn xảy ra đối với các doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu không nghiên cứu kỹ môi trường pháp luật:

    Thời báo Kinh tế Việt Nam số ra ngày 12.1.2001 đưa tin: Đêm ngày 5.1.2001 cảnh sát Indonesia đã bắt giữ 3 giám đốc điều hành của công ty bột ngọt lớn nhất của Nhật đóng tại Indonesia PT Ajinomoto vì đã sử dụng một loại enzim của lợn để sản xuất mì chính, vi phạm quy định về thực phẩm của đạo Hồi. Công ty này đã bị đình chỉ hoạt động trong 3 tuần. Chính phủ Indonesia và Hội đồng Hồi giáo Ulamad Indonesia (MUI) đã quyết định buộc công ty PT Ajnomoto phải mua lại toàn bộ số mì chính đang lưu hành trên thị trường (khoảng 3.000 tấn). Vụ này đã gây thiệt hại cho công ty hàng chục tỷ Rupiad và còn bị đe doạ rút giấy phép hoạt động tại Indonesia và vào thời điểm đó giá cổ phiếu của hãng Ajinomoto tại thị trường chứng khoán Tokyo đã sụt tới 30 điểm.

    Một bài học khá đau đớn đối với một công ty XNK Đà Nẵng là khi xuất khẩu một lô hàng mây tre đan sang Australia mà không biết quy định về pháp lý là hàng hoá phải được hun trùng trước khi đưa vào cảng Australia. Kết quả là toàn bộ lô hàng không được chấp nhận và bị bắt huỷ tại chỗ. Thiệt hại ở đây không chỉ đối với hàng hoá mà doanh nghiệp còn phải chịu toàn bộ chi phí huỷ lô hàng. Chi phí này lớn hơn trị giá lô hàng. Những quy định về pháp lý đối với hàng hoá đưa vào Australia rất nghiêm ngặt nhất là hàng tươi sống.

    Một xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu ở TP.HCM trong nhiều năm cố gắng mà vẫn chưa khai thông được xuất khẩu vịt đông lạnh sang Hàn Quốc cho dù có sự can thiệp của nhiều bộ, nhiều ngành. Khi nghe tin vịt ở Việt Nam bị mắc dịch bệnh, phía Hàn Quốc đã cho người kiểm tra và phát hiện một số con vịt bị dính bệnh. Hàn Quốc lập tức không cho nhập khẩu vịt đông lạnh từ Việt Nam do những quy định rất nghiêm ngặt về vệ sinh thực phẩm ở Hàn Quốc. Sau đó, mặc dù cơ quan thú y Việt Nam đã có thông báo xác nhận không còn tình trạng dịch bệnh gia súc, gia cầm tại TP.HCM và Xí nghiệp chế biến vịt đông lạnh này đã đạt tiêu chuẩn vệ sinh song phía Hàn Quốc vẫn không chấp nhận nhập khẩu trở lại.

    Trường hợp 480 tấn dưa hấu của Việt Nam xuất khẩu sang Indonesia bị trả lại cũng là do không biết về quy định pháp lý đối với hàng hoá tươi sống nhập khẩu vào Indonesia. Hàng hoá tươi sống nhập khẩu vào Indonesia phải có giấy chứng nhận của Công ty giám định Thuỵ Sĩ (SGS). Nhưng khi đưa dưa hấu vào Indonesia, Việt Nam lại lấy chứng nhận của Công ty giám định Việt Nam VINACONTROL.

    Ví dụ về những bài học thất bại nêu trên của các doanh nghiệp Việt Nam cho chúng ta thấy tầm quan trọng của yếu tố pháp luật trong kinh doanh quốc tế. Việc nghiên cứu và hiểu rõ môi trường pháp luật trong nước, môi trường pháp luật ngoài nước, môi trường pháp luật quốc tế và đặc biệt là việc nghiên cứu ảnh hưởng của nó đến các hoạt động kinh doanh quốc tế trở nên cấp thiết đối với các nhà hoạt động kinh doanh muốn thành công trên thương trường quốc tế.

    Bài viết này phân tích ảnh hưởng của những quy định của pháp luật trong nước, ngoài nước và những quy định của pháp luật quốc tế đến các quyết định trong kinh doanh quốc tế theo quan điểm marketing mà các nhà hoạt động kinh doanh quốc tế cần quan tâm đúng mức để tránh những tổn thất như những ví dụ nêu trên.

    1. Luật pháp và marketing hỗn hợp

    Luật lệ của các chính phủ đưa ra cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của xã hội. Các luật lệ này một mặt duy trì cạnh tranh, mặt khác lại bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Những luật lệ như vậy không những làm tăng chi phí kinh doanh của các công ty mà còn làm ảnh hưởng đến chiến lược marketing ở bất kỳ khâu nào trong bốn khâu (product, price, place, promotion) của marketing hỗn hợp.

    1.1 Khâu sản phẩm

    Có rất nhiều sản phẩm không được luật pháp cho phép nhập vào hầu hết các nước. Ví dụ tiền giả, thuốc phiện, sách báo phim ảnh khiêu dâm, thiết bị phục vụ hoạt động tình báo gián điệp,… Hoa quả tươi, súc vật sống thông thường không được phép nhập khẩu, trừ phi có giấy chứng nhận quy định đi kèm theo. Một số sản phẩm phải thay đổi, sửa sang hoặc là về hình thức hoặc là về nội dung kỹ thuật trước khi thâm nhập vào một thị trường mới.

    Chiến lược sản xuất của một công ty cũng có thể bị ảnh hưởng nhiều bởi môi trường pháp luật. Mỹ cấm nhập khẩu súng lục ngắn nòng, rẻ tiền bởi vì loại súng này thường được dùng để gây tội ác. Nhưng lạ thay là Luật quản lý súng lại không cấm bán loại súng rẻ tiền đó. Để khắc phục lệnh cấm nhập này, công ty Berentta, công ty sản xuất súng của Italia đã xây dựng một nhà máy sản xuất súng tại bang Maryland để sản xuất súng. Một sản phẩm, trước khi được đưa vào thị trường Mỹ, cần phải đáp ứng được một số yêu cầu nhất định của pháp luật. Đặc biệt là những sản phẩm liên quan đến sức khỏe và thuốc y tế.

    1.2 Khâu kênh phân phối

    Ở hầu hết các nước, nhà sản xuất không được quyền lựa chọn nhiều kênh phân phối, nhưng ở Mỹ nhà sản xuất lại được phép. Ở châu Âu, các nhà kinh doanh độc lập buôn bán máy tính cá nhân nhưng luật lệ của EC lại hạn chế việc quản lý phân phối máy loại cỡ trung của công ty IBM. Kết quả là IBM buộc phải sử dụng đại lý bán hàng độc lập ăn hoa hồng, một loại kênh phân phối sản phẩm không hiệu quả lắm. Các doanh nhân ở Tây Ban Nha đã gặp không ít khó khăn do lệnh cấm chuyển những gói quà đến tận nhà người nhận. Người tiêu dùng Tây Ban Nha phải đến tận bưu điện trung tâm để nhận, như vậy đã hạn chế rất nhiều việc gửi quà bằng bưu điện.

    Về bán lẻ, không phải lúc nào cũng luôn sẵn có những nhà bán lẻ của các loại mặt hàng. Nếu có thì hiệu quả cũng bị hạn chế. Ở Nhật Bản, dưới sự bảo trợ của luật pháp, các cửa hiệu nhỏ chiếm lĩnh ngành công nghiệp bán lẻ. Luật pháp cho phép các cửa hàng bán lẻ lân cận có quyền không chấp nhận bất kỳ một kế hoạch mở cửa hàng mới nào có diện tích lớn hơn 27.000 feet vuông (2.508,3 m2) hay kế hoạch mở rộng các cửa hàng sẵn có. Quy định hạn chế việc phát triển và mở rộng hệ thống cửa hàng bán lẻ và siêu thị này đã buộc các nhà sản xuất và các nhà nhập khẩu phải bán hàng qua các cửa hiệu bán lẻ nhỏ – một loại kênh phân phối có chi phí khá lớn. Nhiều người cho rằng luật pháp đã hình thành bức rào cản trở thương mại vì các nhà bán lẻ nhỏ ít có khả năng dự trữ hàng và bán hàng nhập khẩu.

    Ở một số nước, bán hàng lẻ còn bị ảnh hưởng bởi cái gọi là hệ thống “Luật xanh” cổ điển. Luật này không cho phép các cửa hiệu mở cửa vào các ngày chủ nhật. Ở Anh và Wales, vào ngày chủ nhật người ta được phép mua một quyển sách đồi trụy nhưng không được phép mua một quyển sách kinh thánh; được phép mua rượu whisky hay rượu gin, nhưng không được phép mua sữa khô ở trong thùng; được phép mua bưu thiếp, nhưng không được mua thiệp chúc mừng sinh nhật; được phép mua rau quả tươi chứ không được mua rau quả hộp; được phép mua thức ăn cho ngựa, nhưng không được mua thức ăn cho chó, mèo. Vấn đề mở cửa hiệu vào ngày chủ nhật hay không do một vài ngụ ý tôn giáo hay tín ngưỡng đã gây nên những tranh luận trong công chúng, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.

    1.3 Khâu xúc tiến

    Do chưa thấy hết được tầm quan trọng của quảng cáo trong kinh doanh, nhiều nước đã đánh thuế trực tiếp vào những hoá đơn quảng cáo, các hãng quảng cáo, các phương tiện thông tin đại chúng. Một vài chính phủ sử dụng thuế quảng cáo để giảm bớt quảng cáo, do vậy có thể giảm được lạm phát và nhu cầu. Một vài chính phủ khác lại sử dụng việc hạn chế quảng cáo như một hàng rào phi thuế quan đối với hàng ngoại. Ví dụ: Nhật Bản không cho phép thuốc lá ngoại quảng cáo bằng tiếng Nhật.

    Một số nước không cho phép những vật phẩm quảng cáo sản xuất ở nước khác trưng bày ở nước mình. Australia yêu cầu tất cả những quảng cáo trên tivi phải được các nhà sản xuất phim địa phương quay. Nam Phi và Mêhicô yêu cầu những sản phẩm bán ở nước này phải là những sản phẩm đã được quảng cáo ở đây.

    Nếu có một luật lệ chung cho tất cả các nước thì đó là luật cấm quảng cáo sai sự thật hay gian dối. Đức yêu cầu các thông tin về hàng hoá phải đúng, chính xác và không được mơ hồ. Hãng Simpson-Sears, hãng bán lẻ lớn nhất của Canađa bị chính quyền địa phương phạt 800.000 USD do các quảng cáo trên catalô và báo dẫn đến sự hiểu lầm.

    Còn một vấn đề nữa mà các công ty phải chú ý đó là ý nghĩa các quảng cáo được hiểu theo các cách khác nhau. Một quảng cáo ở một nước được hiểu theo cách này thì ở nước khác có thể lại được hiểu theo một cách hoàn toàn khác. Điều này đòi hỏi các nhà kinh doanh quốc tế phải nghiên cứu và rất thận trọng trong lời lẽ quảng cáo dùng ở các nước khác nhau.

    1.4 Khâu giá

    Không phải mọi lúc, mọi nước đều áp dụng hệ thống thị trường tự do. Chứng minh cho điều này là ngành công nghiệp dược phẩm của các nước EU. Do luật sức khoẻ của từng nước và cơ chế quản lý giá đã tạo ra một sự khác biệt khoảng 600% về giá giữa nước EU này và nước EU khác. Quản lý giá là chính sách chung của nhiều nước. ở Mỹ, tuy không phổ biến, nhưng chính sách này đôi khi cũng được áp dụng. Mục đích chung của chính sách quản lý giá là bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và kiềm chế lạm phát. Nhìn chung các doanh nghiệp không còn lựa chọn nào khác mà phải tuân thủ chính sách quản lý giá và lương của chính phủ.

    Mặc dù việc quản lý giá là cần thiết, song nhiều nước cũng thấy được vai trò của cạnh tranh giá cả. Do vậy, một vài biện pháp can thiệp vào giá cả thị trường bị luật pháp cấm. Một biện pháp can thiệp vào giá cả thị trường được coi là bất hợp pháp ở nhiều nước là biện pháp phân biệt giá. Ở Mỹ, đạo luật Robinson Patman đã cấm hành động phân biệt giá cả. Liên minh châu Âu cũng đang chuyển dần tới xu hướng như vậy. Liên minh châu Âu đã đưa vào luật của EU nguyên tắc bình đẳng giá cả và đánh giá chi phí. Chiết khấu phải cân xứng với hoạt động kinh doanh của các nhà buôn và phải trực tiếp liên quan đến việc giảm giá thành sản xuất. Năm 1981, hãng Michelin bị phạt 700.000 USD do khoản chiết khấu phân biệt đối xử cho các thương gia Hà Lan do luật cấm chiết khấu số lượng cộng dồn. Quan điểm của Liên minh châu Âu về chiết khấu không phải được nhất trí ở mọi nơi. Pháp, Tây Đức, Anh không hoàn toàn phản đối việc chiết khấu phân biệt đối xử. Anh cho phép các cửa hàng bán lẻ chiết khấu có lợi cho những người mua với số lượng lớn. Pháp cũng cho phép chiết khấu có lợi cho những tiến bộ về kinh tế và xã hội.

    2. Sự thay đổi thường xuyên của pháp luật

    Nếu luật pháp giữ mãi không đổi, các nhà làm luật sẽ nhanh chóng bị thất nghiệp. Vì vậy, luôn có những luật mới ra đời, có những thay đổi trong luật cũ và những văn bản dưới luật giải thích mới cho luật hiện hành. Những thay đổi này có thể gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp.

    Những luật mới thường đưa ra những trở ngại và thách thức mới. Những nhà kinh doanh quốc tế luôn phải sẵn sàng đối phó với những thử thách mới, cơ hội mới khi có luật mới ban hành cùng với những thay đổi thường xuyên và nhanh chóng trong các tiêu chuẩn về kinh tế – xã hội, và các tiêu chuẩn về pháp luật. Một thị trường đã bị đóng có thể đột nhiên được mở cửa,… do sự thay đổi của luật pháp.

    Mãi đến những năm đầu 80, Đức và các nước châu lục vẫn còn do dự không cho phép phát hành thẻ gia hạn tín dụng ngân hàng, vì họ không muốn mất quyền kiểm soát mức cho vay tín dụng và mức cung tiền – hai nhân tố gây lạm phát. Kết quả là chỉ có thẻ đảm bảo séc hay thẻ du lịch (Ví dụ: thẻ American Express và Diner’s Club) được phép phát hành. Các nước Hà Lan, Bỉ và Lucxembua trước đây ngân hàng trung ương của họ không được phép phát hành thẻ tín dụng, thì bây giờ, do có luật mới ban hành, nên đã có thể phát hành thẻ VISA (VISA CARDS) và các loại thẻ gia hạn tín dụng khác.

    3. Những kẽ hở của luật pháp

    Mặc dù các doanh nghiệp phải tuân thủ mọi pháp luật hiện hành, song không thể hoàn toàn phó mặc hoàn cảnh mà cần phải tìm cách khắc phục. Chính sách “ba không” của Đài Loan: không quan hệ, không đàm phán và không nhượng bộ với Trung Quốc đã không ngăn cản Đài Loan buôn bán với Trung Quốc khoảng 2 tỷ USD một năm. Họ đạt được kim ngạch như vậy bằng con đường chuyển tải hàng hoá qua Hồng Kông và các cảng của nước thứ ba khác.

    Một công ty đa quốc gia có thể rời bỏ một nước nếu như luật nước đó gây quá nhiều khó khăn phức tạp không bù đắp lại được những chi phí bỏ ra trong kinh doanh. Nếu việc rời bỏ không thực tiễn hay ngoài ý muốn của nước sở tại thì công ty có thể tác động nhằm thay đổi luật. Trong một vài trường hợp, luật pháp có thể cố tình hay vô tình để một vài kẽ hở về mặt kỹ thuật. Các công ty đa quốc gia với mạng lưới kinh doanh quốc tế thường có khả năng lợi dụng những sơ hở của luật pháp để làm lợi cho mình.

    4. Pháp quyền và đặc quyền

    Không có đạo luật quốc tế nào áp dụng cụ thể cho các hoạt động kinh doanh của công ty trên vũ đài quốc tế, chỉ có luật quốc gia của các nước khác nhau. Vì vậy, khi chuẩn bị hợp đồng cần phải quy định rõ khi có tranh chấp thì sẽ vận dụng hệ thống luật nào và toà án nào. Các công ty cần luôn luôn nhớ rằng thắng một vụ kiện ở toà án nước mình là một chuyện nhưng để bắt đối phương nước ngoài thi hành phán quyết đó thì lại hoàn toàn là một chuyện khác. Việc thi hành phán quyết thật là khó khăn, trừ phi đối tác nước ngoài vẫn muốn tiếp tục làm ăn ở nước đưa ra phán quyết đó.

    Việc đưa ra toà án một vụ tranh chấp ở nước người bị cáo thường là cần thiết. Để đảm bảo chắc chắn rằng toà án nước ngoài có quyền xử những vụ tranh chấp này, hợp đồng phải bao gồm điều khoản cho phép công ty có thể thưa kiện ở nước mình hay nước ngoài (nước sở tại).

    Các nhà hoạt động kinh doanh quốc tế cần phải nhận thức rằng một công ty không dễ gì trốn tránh trách nhiệm ở nước ngoài bằng cách suy nghĩ rằng toà án nước ngoài không có quyền xử kiện. Trường hợp công ty hữu hạn Duple Motor Body Works – một công ty của Anh là một bằng chứng. Công ty Duple cung cấp thân xe buýt cho công ty Vauhall Motor, một công ty Anh khác, để lắp ráp xe buýt tại Anh cho khách hàng ở Hawaii (Mỹ). Khi có một công nhân bị thương và liên quan đến trách nhiệm sản phẩm, vụ việc này được đưa ra toà án ở Hawaii. Tuy nhiên, công ty Duple tuyên bố rằng toà án Hawaii không có thẩm quyền, vì họ cho rằng Duple không quảng cáo cũng không bán hàng tại Hawaii. Nhưng công ty Duple biết rõ rằng thân xe của công ty cuối cùng cũng được sử dụng tại Hawaii. Điều này có thể là bằng chứng để toà án Hawaii phán xử Duple.

    Bất kỳ khi nào có thể và có khả năng thực hiện công ty nên cân nhắc đến trọng tài thương mại thay cho việc xét xử ở toà án. Các thủ tục xét xử qua trọng tài có nhiều lợi thế như xét xử khách quan, nhanh chóng có kết quả và những quyết định của trọng tài thường là quyết định của các chuyên gia có trình độ về chuyên môn. Trường hợp công ty IBM và Fujitsu, cả hai công ty đều rất thoả mãn với những phán quyết của hai trọng tài trong vụ giải quyết tranh chấp về bản quyền tác giả. Ngược lại, công ty Intel không sử dụng trọng tài đã thất vọng với tốc độ xét xử tại toà án vụ kiện về bản quyền của công ty chống lại công ty NEC. Sau những vụ xét xử dài, mất thời gian, một chánh án thuộc một bang ở Mỹ đã phán quyết là công ty Intel được nắm giữ bản quyền hợp pháp. Vụ việc trở nên phức tạp hơn nhiều khi toà án cấp cao hơn phải mất một năm nữa mới quyết định được là ngài chánh án kia không có đủ tư cách, do ông ta có cổ phiếu ở công ty Intel với trị giá 800 bảng Anh thông qua một câu lạc bộ đầu tư. Cuối cùng người chánh án này phải bị hạ bậc và tranh chấp lại được lệnh xét xử lại. Khi trọng tài là tình nguyện chứ không phải bắt buộc còn có thêm một lợi thế liên quan đến vấn đề thẩm quyền xét xử. Lợi thế này được quy định bởi Công ước New York của Liên Hiệp Quốc năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài. Công ước đưa ra những quy định thống nhất cho các quốc gia ký kết hợp đồng, công nhận và thi hành những phán quyết của trọng tài do những nước thành viên đưa ra với những nguyên tắc và quyền hạn riêng biệt. Công ước này đã loại bỏ thẩm quyền xét xử của toà án sở tại đối với những vấn đề đã được trọng tài phán quyết.

    Một khía cạnh nữa của luật pháp không được đông đảo chấp nhận liên quan đến việc áp dụng đặc quyền của luật pháp. Một quốc gia muốn bảo vệ lợi ích của riêng mình thường áp dụng luật của chính mình cho các hoạt động bên ngoài lãnh thổ. Như vậy, một công ty Mỹ kinh doanh ở ngoài nước Mỹ vẫn phải tuân thủ luật pháp của Mỹ. Mâu thuẫn hơn nữa đó là các hoạt động của các công ty con và các chi nhánh ở nước ngoài. Mặc dù sở hữu là của công ty Mỹ nhưng các chi nhánh nước ngoài là những công ty phi Mỹ trên đất hải ngoại. Một câu hỏi được đặt ra ở đây là liệu các công ty con này có phải tuân thủ luật pháp của chính phủ Mỹ hay không?

    Đáp lại lệnh cấm của Tổng thống Reagan năm 1986, cấm các công ty Mỹ buôn bán với Libi sau những vụ khủng bố ở Vienna và các sân bay ở Rome, các công ty Mỹ phải tuân thủ những lệnh này, nhưng lại không cấm các chi nhánh và công ty con của mình ở nước ngoài làm ăn với Libi như thường lệ với lý do là các nhân viên người Mỹ không đóng ở đó.

    Khi một quốc gia có ý định áp dụng những văn bản đặc biệt, nó có thể làm phật lòng các bạn hàng và các đồng minh chính trị. Trước đây, Mỹ đã nhiều lần bị đặt vào thế rất khó xử. Mỹ làm Canada phải tức giận khi chính phủ Mỹ cố ngăn chặn việc các công ty con của các công ty Mỹ đóng tại Canada bán hàng cho Cuba. Mỹ còn tạo ra một làn sóng giận dữ ở châu Âu khi Mỹ cấm các chi nhánh của mình ở châu Âu tham gia vào dự án đường ống dẫn dầu của Liên Xô (cũ). Từ những bài học đắt giá này, hiện nay Mỹ có ý định tránh những tranh chấp về hiệu lực của những văn bản này. Trong lệnh cấm vận về thương mại chống lại Nicaragua, Mỹ rất thận trọng không gây nên những xung đột không cần thiết với các đồng minh ở Trung Mỹ, bởi vì Nicaragua có kim ngạch buôn bán khá lớn với 4 nước khác của khối thị trường chung Trung Mỹ (Guatemela, El Salvador, Honduras và Costa Rica). Mỹ không muốn gây ra những gián đoạn về thương mại làm tổn thương đến nền kinh tế của những nước này và các nước đồng minh khác. Kết quả là Nicaragua vẫn có thể mua được phụ tùng của Mỹ qua đường Canada và Mêhicô. Vậy là lệnh cấm vận của Mỹ chỉ mang tính chất chính trị hơn là cấm vận về kinh tế.

    5. Các hình thái tổ chức hợp pháp của công ty

    Khi kinh doanh trên thị trường quốc tế các công ty cần chú ý đến các loại hình tổ chức công ty trước khi đi đến quyết định nên làm ăn với loại công ty nào. Ở Anh có 3 loại hình tổ chức công ty hợp pháp: chi nhánh Anh, công ty hữu hạn, công ty hợp danh. Nếu lựa chọn công ty hữu hạn thì phải quyết định giữa công ty trách nhiệm hữu hạn công cộng hay công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân. Công ty trách nhiệm hữu hạn công cộng được phép bán cổ phiếu hay trái phiếu cho công chúng để hùn vốn và phải đáp ứng được một số yêu cầu đề ra như cơ cấu vốn (phải có ít nhất 50.000 bảng Anh), đăng ký, phát hành cổ phiếu, lợi nhuận và tài sản theo quy định. Còn công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân thì không được quyền phát hành cổ phiếu hay trái phiếu.

    Ở Mỹ các doanh nhân quốc tế có thể lựa chọn những loại hình công ty sau: công ty tự doanh, công ty hợp danh và công ty cổ phần. Nhưng thông thường người ta chọn công ty cổ phần do trách nhiệm hữu hạn, cơ cấu tổ chức ổn định tương đối lâu dài và có khả năng hùn vốn bằng cách bán cổ phiếu và trái phiếu. Hầu hết các công ty của Mỹ đều mang danh viết tắt Corp. (công ty cổ phần) hay Inc. (trách nhiệm hữu hạn) như một phần của tên giao dịch. Viết tắt của các công ty trách nhiệm hữu hạn ở các nước khác nhau thường được biểu thị khác nhau. Ở Anh là Ltd. ở Pháp là SARL. ở Đức, Thuỵ Sĩ ký hiệu AG là công ty cổ phần, GmbH là công ty hữu hạn…

    6. Bằng sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền và vi phạm

    Các doanh nghiệp kinh doanh trên phạm vi quốc tế cần phải nắm vững một số luật, hiệp ước và công ước quốc tế liên quan đến việc bảo vệ quyền tài sản như bằng sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền… ở nước ngoài để tránh những vi phạm không chủ ý.

    Bằng sáng chế được coi là bị vi phạm khi bằng đó được sử dụng trong thương mại như copy hay bắt chước mà không có sự đồng ý của chủ nhân với ý đồ lừa bịp hay làm lẫn lộn công chúng. Ví dụ: Công ty Texas Instruments đã kiện 8 công ty Nhật sản xuất bộ nhớ dựa vào bằng sáng chế của công ty này sau khi đã hết hạn giấy phép. Công ty Mỹ này đã bắt những công ty Nhật trả gần 300 triệu USD cho tiền bản quyền.

    Khi một công ty phát minh ra một sáng kiến thì cần phải có được bằng sáng chế. Mục đích của việc lấy bằng sáng chế là để có khả năng sử dụng phát minh của mình trong thương mại và ngăn chặn những công ty khác quấy nhiễu. Không phải mọi sáng kiến đều được cấp bằng sáng chế. Bằng sáng chế chỉ được cấp khi mặt hàng phát minh đó thoả mãn được một số tiêu chuẩn như mới, có ích, sáng tạo và có hiệu quả kinh tế.

    Luật sáng chế khác nhau rất nhiều giữa các nước. Chúng ta không nên vội kết luận rằng vấn đề khó khăn trong việc cấp bằng sáng chế chỉ giới hạn ở các nước kém phát triển, các nước đang phát triển hay các nước có nền kinh tế chỉ huy. Các nước công nghiệp phát triển cũng loại trừ một số mặt hàng ra khỏi danh mục những mặt hàng được bảo hộ. Nhật với ý đồ đẩy mạnh ngành công nghiệp phần mềm máy tính đã đề nghị sửa đổi luật bản quyền để cho phép các công ty Nhật có quyền sao chép hợp pháp một phần của chương trình phần mềm hiện có mà không cần xin phép người thiết kế phần mềm đầu tiên. Canada là nước công nghiệp duy nhất yêu cầu cấp giấy phép cho việc sản xuất và buôn bán thuốc.

    Nhà phát minh nên hiểu rằng bằng phát minh được cấp ở nước này có thể sẽ không được bảo vệ ở nước khác. Để được bảo vệ, nhà phát minh cần phải đăng ký ở những thị trường quan trọng khác. Một điều cần lưu ý nữa đối với các doanh nhân quốc tế là chi phí để chuẩn bị và đăng ký bằng sáng chế có thể rất đắt. Công ty Genentech (sản xuất thuốc tân dược) nhận được 80 bằng sáng chế và mất hơn 1 triệu USD chi phí xin bằng. Ngoài chi phí ban đầu này còn các chi phí khác nữa như thuế hàng năm, phí xin gia hạn,… Do chi phí liên quan đến một bằng sáng chế rất cao nên các doanh nhân quốc tế cần cân nhắc xem những cái được, cái lợi có bù đắp được chi phí bỏ ra không. Nói về mặt lâu dài trong kinh doanh quốc tế, nếu không có một bằng sáng chế có giá trị thì sẽ có nhiều cái bất lợi xảy ra và sẽ gây tổn phí rất nhiều cho công ty. Kết luận Môi trường pháp luật rất phức tạp và đa dạng. Hệ thống pháp luật khác nhau tác động khác nhau đối với các hoạt động kinh doanh. Việc tác động qua lại giữa môi trường pháp luật trong nước, môi trường pháp luật ngoài nước và môi trường pháp luật quốc tế tạo ra vô số những cơ hội mới song cũng gây nên không ít những khó khăn, chướng ngại vật mới cho kinh doanh. Một công ty hoạt động trên quy mô quốc tế không những phải tuân thủ luật pháp nước mình mà còn phải tuân thủ luật pháp nước sở tại. Một doanh nhân hoạt động trên phạm vi quốc tế cần phải hiểu rõ luật pháp nước sở tại liên quan đến cạnh tranh, định giá, phân phối, trách nhiệm sản phẩm, bằng sáng chế, nhãn hiệu và quảng cáo,… Ngoài việc phải chú ý đến luật pháp nước mình, luật pháp nước sở tại, các nhà kinh doanh quốc tế còn cần phải biết đến những quy định có tính bắt buộc của các điều ước quốc tế hữu quan. Làm được những điều nêu trên, các nhà hoạt động kinh doanh quốc tế mới có cơ hội thành công trên thương trường quốc tế.

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 169, THÁNG 11/2004
    (Nguồn: thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/11/22/1992)

Trả lời