Những thói hư tật xấu của người Việt là gì?

Câu hỏi

Ở xã hội nào thì cũng có người này người kia, người tốt người xấu. Còn người Việt Nam mình thì có những tật xấu gì? Chúng ta hãy cùng thảo luận để tìm ra những tật xấu đó với hy vọng sẽ tìm ra giải pháp xóa bỏ hoặc giảm bớt những thói hư tật xấu này. Một xã hội tốt đẹp, văn minh hơn cần loại bỏ những điều xấu. Hòa nhập chứ không hòa tan, tiến tới hội nhập quốc tế.

Thói hư tật xấu của người Việt Nam

Đang trả lời 0
Nam Châm 2 tháng 2 Câu trả lời 108 lượt xem 0

Câu trả lời ( 2 )

  1. Những thói hư tật xấu của người Việt theo cuốn sách “Người xưa cảnh tỉnh” của tác giả Vương Trí Nhàn.

    Những phát biểu bao quanh chủ đề thói hư tật xấu, hoặc nói theo một danh từ đang trở nên thời thượng, những cố gắng dựng lại chân dung người Việt xấu xí mà tôi thu thập được trải rộng ra trên đủ mọi phương diện. Sau khi giới thiệu các đoạn này trên báo chí và các mạng, tôi tạm tổng hợp lại và chia thành một số cụm ý kiến như sau.

    I/ Ăn ở luộm thuộm, ăn xổi ở thì, vụng nói chuyện, nếp sống buông tuồng tùy tiện, a dua làm bậy, thị hiếu tầm thường, ham cờ bạc. Dễ tin nhảm, lòng tin sơ sài, biến thành mê muội. Quan niệm nông nổi về cuộc sống.

    II / Bảo thủ ngại thay đổi, cam chịu, đầu hàng hoàn cảnh, khiếp nhược trước những giáo điều ngoại nhập, suy đồi thoái hóa, hư vô trống rỗng. Bịp nhau chọe nhau,hay diễn trò, đạo đức giả, nhìn hàng xóm như kẻ thù, với người nước ngoài không thật lòng và đầy nghi kỵ.

    III/ Sống rời rạc đèn nhà ai nhà nấy rạng, kém ý thức pháp luật, đặt quyền lợi riêng lên trên cái chung. Tinh tướng khôn vặt “ ăn cỗ đi trước lội nước đi sau ‘, thực dụng vụ lợi vặt vãnh. Không trọng chữ tín. Không có khả năng đặt mình vào địa vị người khác. Quan hệ với thiên nhiên cẩu thả, thiếu tinh thần hướng thượng và óc lãng mạn chân chính.

    IV/ Đời sống tinh thần nghèo nàn,dễ thỏa mãn, không chuyên chú học hỏi nghiên cứu; học không biết cách, chỉ giỏi học lỏm. Nội dung văn chương học thuật phù phiếm. Bằng lòng với tình trạng tự phát, không đặt trí óc vào công việc.

    V/ Tầm nhìn hẹp, không có nhu cầu hoàn thiện, không cái gì đi tới cùng. Tình trạng phi chuẩn kéo dài, không có khả năng tự sàng lọc, không hình thành nổi bộ phận tinh hoa, dìm dập níu kéo nhau trong tình trạng bảo thủ trì trệ.

    Sau nữa là sĩ diện, che giấu, dễ dãi với bản thân, không lo tự hoàn thiện mà chỉ sợ người ta biết thói xấu của mình.

    Thoạt đầu tôi cũng chỉ nghĩ thử đi đi tìm một số thói hư tật xấu thông thường, chuyện trong nhà chúng ta bảo nhau ngay được. Đọc kỹ vào những dòng chữ mà các bậc tiền bối đã viết bằng cả tình yêu và tâm huyết, thấy có lẽ phải đặt vấn đề một cách nghiêm chỉnh hơn. Nhiều nhược điểm nêu lên quá nghiêm trọng. Phải chăng đây là những nhận xét tổng quát có liên quan tới trình độ sống trình độ làm người của dân ta, chính nó là nguyên nhân hạn chế chúng ta trên đường phát triển?! Có một số nhược điểm cản trở nước ta gia nhập vào thế giới hiện đại.

    Tuy nhiên chúng ta sẽ bình tâm hơn nếu biết rằng hầu như tất cả các dân tộc trên thế giới đều qua giai đoạn tự nhận thức như thế này. Và họ thường nói về họ hết sức nghiêm khắc. Như với một nước gần với chúng ta là Trung quốc. Lâu nay chỉ nghe nói đến cuốn Người Trung quốc xấu xí của Bá Dương. Nhưng nên biết là trước đó, dân tộc tính của người Trung quốc đã được các nhà chính trị các nhà văn hóa các trí thức hàng đầu đất nước này đề cập tới. Lương Khải Siêu bảo dân Tàu quen óc nô lệ chỉ biết vì mình, các thói xấu như ngu muội nhút nhát lừa đảo,võ đoán giả dối … không gì là không có. Với Tôn Trung Sơn, người Trung quốc trình độ kiến thức thấp, xã hội giống như một chậu cát rời. Lâm Ngữ Đường còn nói thẳng là đồng bào của ông xảo quyệt. Hiện nay tài liệu Trung văn có liên quan tới người Trung quốc xấu xí rất nhiều, cả các cuốn sách các bài báo của các tác giả phương Tây cũng được giới thiệu đầy đủ, để người trong nước cùng nghĩ.

    Nghĩa là không nên hoảng sợ khi thử tìm cách gọi ra một số phẩm chất tiêu cực. Tất cả đều nên coi là những giả thiết để làm việc, nếu sau khi thảo luận chúng ta thấy rằng một số nhận xét nêu ra là không đúng, ta sẽ phải tìm một công thức khác để diễn đạt, cốt sao nắm bắt chính xác đặc tính dân tộc.

    Cái chính là đằng sau mỗi “nhãn hiệu”, người ta phải tìm ra nội dung cụ thể của nó. Ví dụ gần đây qua cuốn sách Việt Nam và Nhật Bản – giao lưu văn hóa của Vĩnh Sính, tôi được biết là nhiều người Nhật cho là người Việt có mắc căn bệnh dạ lang tự đại. Đây là một ẩn dụ, bắt đầu từ câu chuyện có thật về một nước nhỏ thời Hán, trong giao thiệp với thiên hạ mắc bệnh hoang tưởng, từng tranh luận với các sứ giả quanh chủ đề “nước Dạ Lang so với Trung Quốc bên nào lớn bên nào nhỏ”. Và đấy là dấu hiệu của một tình trạng tư duy ấu trĩ. Thế nhưng trong 17 điểm mà chính Tôn Trung Sơn đã từng khái quát về người Trung quốc thì điểm thứ 9 cũng là dạ lang tự đại (Dẫn theo Bản đồ tính cách người phương Đông, bản Trung văn của Sơn Đông họa báo xuất bản xã, 2005, tr 151). Vậy thì vấn đề đặt ra với người nghiên cứu là nội dung cụ thể của bệnh tự cao tự đại ở từng nước. Cũng bệnh ấy, nhưng ở ta nó sâu sắc, nặng nề và … buồn cười đến đâu, triển vọng sắp tới có chữa được không.

    Với các đặc tính khác cũng phải khảo sát tương tự.

    Người Việt và ý thức công dân, ý thức xã hội

    Bảo thủ, dựa dẫm, cầu an
    Tri túc và hiếu cổ
    Cái gì cũng đổ tại trời
    Ma quỷ sống lẫn với người hèn yếu
    Ý thức quốc gia thức tỉnh quá chậm
    Khi bàn chuyện quốc gia chỉ ham hư danh
    Làm ra vẻ yêu nước để mưu lợi riêng
    Lo việc nước theo lối tự tư tự lợi
    Tư tưởng gia nô
    Kém óc hợp quần
    Một vài thói tục đã thành di truyền (một là học để làm quan, hai là làm quan ăn lót, ba là a dua người quyền quý, bốn là trọng xác thịt…)
    Sợ tự do, cam chịu làm nô lệ
    Chưa trưởng thành trên phương diện công dân
    Các hội nghề nghiệp yếu ớt ọp ẹp (Tham gia các hội nghề nghiệp chỉ cốt hư danh)
    Sinh hoạt hội đoàn dễ bị làm hỏng
    Theo sự chi phối của quan niệm hư vô (Sống không lý tưởng)
    Có độc lập cũng cướp đoạt của cải và chém giết nhau đến chết (Sự suy đồi toàn diện)
    Dân trí thấp kém (hay nghi kỵ lẫn nhau, không làm nên việc gì cả…)
    Dễ ỷ lại
    Trong việc nước cũng ai mạnh thì theo, bỏ hết liêm sỉ (Ai mạnh thì theo, bỏ hết liêm sỉ)
    Rên rỉ than vãn mỗi khi gặp khó (Nặng về rên rỉ than vãng)
    Không có chí viễn du (Tầm nhìn tầm nghĩ chật hẹp)
    Xa lạ với chuyện phiêu lưu
    Căn tính nô lệ, run sợ trước cái mới (Co mình trong hủ lậu)
    Không thiết việc đời (Người dân quen sống cẩu thả)
    Chống đối tự phát
    Đi đâu cũng lo quay về làng (Xóm làng níu kéo kìm hãm nhau)
    Ngoài làng xã không biết gì đến nước nhà đến thế giới (Tự giam hãm mình trong lũy tre làng)
    Tình yêu làng nước cản trở tiến bộ (Tự giới hạn trong tình yêu làng xóm)
    Ương ngạnh, hoài nghi, khó dìu dắt (Thủ cựu và ngại thay đổi)

    Người Việt qua cách nói năng cười cợt

    Không còn lễ nghĩa liêm sỉ
    Những câu chửi rủa quá quắt (Chửi rủa quát mắng)
    Tây không ra tây, tàu không ra tàu, ta không ra ta (Nói năng lộn xộn)
    Thiên về những cái tầm thường thô bỉ
    Tật huyền hồ sáo hủ
    Trong tiếng cười ẩn chứa nhiều ý xấu (Gì cũng cười)
    Tiếng cười vô duyên
    Nói bừa nói bãi, tủi nhục cho cả nòi giống (Điếc không sợ súng, nói liều làm ẩu)
    Hay cãi nhau, thích kiện tụng
    Chỉ trích và châm chọc (Cách chống đối tiêu cực)

    Thói hư tật xấu người Việt trong làm ăn buôn bán

    Nhìn vào các lĩnh vực khác như học hành thi cử cầu cúng tín ngưỡng, văn hóa giáo dục, quản lý xã hội nói chung… đâu đâu ta cũng thấy đời sống kinh tế lạc hậu đã kéo thấp con người xuống, và đến lượt nó, sự hạn chế trong đời sống tinh thần lại quay lại làm cho sự sản xuất làm ăn không bao giờ phát triển lên được.

    Thiếu cái gan làm giàu (Lối tính toán thiển cận)
    Không lo xa, dễ thoả mãn
    Ăn xổi ở thì, chưa lo làm đã lo phá
    Không biết chấn hưng thực nghiệp
    Đồng tiền không dùng để sinh lợi
    Những người thợ bất đắc dĩ (Học vấn một đẳng, công nghệ một nẻo)
    Buôn bán lòng vòng trong phạm vi hẹp
    Không có nghề nào đạt tới trình độ chuyên nghiệp
    Không chịu học buôn học bán
    Khéo tay mà trí không khôn
    Không ai chuyên nhất việc gì
    Làm hàng bán hàng đều kém
    Tài trí thua kém
    Thời gian phí phạm cách sống làm điệu làm dáng
    Quan niệm về kinh tế quá cổ lỗ
    Giữa chủ và thợ không tìm được hình thức cộng tác thích hợp
    Những cái gia truyền dần dần mất đi
    Ngủ yên trên danh vọng
    Bôi bác, giả dối, chỉ cầu rẻ
    Người làm nghề không ngóc đầu lên được
    Không biết thích ứng với xã hội hiện đại

    Việc tìm tòi học hỏi và nền giáo dục của người Việt

    Nhắm mắt bắt chước điều không hay của cổ nhân và ngại thay đổi
    Dễ học cái dở
    Học thuật hủ bại (Nội dung học tập viển vông phù phiếm)
    Học để kiếm gạo
    Học để làm quan
    Học đòi vặt vãnh bỏ qua chuyện lớn
    Nặng tính hiếu kỳ
    Thần trí bạc nhược, thiếu óc tự lập (Chăm học nhưng chưa thoát khỏi tư cách học trò)
    Như cái cây bị “cớm” (Ỷ lại, chỉ lo học mót)
    Con ma cử nghiệp giết chết sự học
    Có khoa cử mà không có sự nghiệp
    Giáo dục hiện đại bị thương mại hóa (Giáo dục bị thương mại hóa)
    Thiếu niên hư hỏng
    Đỗ đạt là xong, không còn cầu học (Thiếu tinh thần cầu học)
    Một nền giáo dục giết chết nhân cách
    Không có một nhà tư tưởng, không có người khao khát tìm đạo lý mới
    Khi học thuật kém cỏi lòng người sinh ra phù phiếm, phong tục trở nên bại hoại
    Nói láo nói linh
    Không học nên thiếu tư cách làm người
    Cái hay của người đến mình trở thành cái dở
    Học không biết cách, luật pháp hồ đồ, cương thường giả dối
    Không học được cách tư duy hợp lý
    Không có học thuyết của mình (Chỉ học theo lối mòn)
    Việc bắt chước dễ dãi thường gây nhiễu loạn
    Mô phỏng lâu ngày quên cả sáng tạo
    Mình lại rẻ mình, bản thân tự làm hỏng (Khi học hỏi người, thường thiếu tự tin)
    Tình nghĩa thầy trò bị hiểu sai lệch và bị lợi dụng
    Chỉ lo nuôi không lo dạy (Biếng nhác trong giáo dục gia đình)
    Sẽ có lúc mất hết đạo lý? (Lớp trẻ hỗn xược, thô lỗ)
    Không chú trọng học thuật sẽ thành dân tộc bỏ đi

    Thị hiếu nhỏ mọn và chất bi thương sầu cảm trong văn chương

    Thị hiếu tầm thường
    Văn chương phù phiếm, toàn giọng bi thương
    Đằng sau thói quen đẽo gọt là sự nhu nhược
    Chỉ giỏi về văn thù ứng
    Tưởng thật mà hoá dối
    Khinh miệt cá nhân
    Không tìm thấy bản sắc
    Phê bình nghĩa là nịnh nọt (Chỉ quen ưa nịnh)
    Nhắm mắt bắt chước cốt kiếm lợi
    Tiểu thuyết của phường coi cổng
    Nhiều trò quảng cáo bỉ ổi
    Những nhạc điệu rời rạc, ẻo lả
    Nặng tính trang sức mà thiếu sức sống (Xu thế trang sức quá nặng)
    Kiếp người bấp bênh văn chương sầu não

    Quan hệ giữa người với người: Tham lam ích kỷ cạnh tranh nhỏ nhặt

    Không ai hết lòng với ai
    Tham lợi dẫn đến vô cảm
    Không biết hợp quần
    Ích kỷ và khôn vặt
    Chỉ biết cạnh tranh trong những việc tầm thường, lặt vặt
    Vừa không thiết chuyện gì, vừa xét nét nhỏ nhặt (Không thiết chuyện gì)
    Lợi dụng đạo nghĩa kiếm lợi
    Danh dự bị hiểu sai lạc và mang ra mua bán
    Trông nhau để… yên tâm trục lợi (Trăm sự đều do lỗi ở giáo dục)
    Cách sống của kẻ cùng đường
    Mưu danh bằng cách hạ nhục kẻ khác
    Chỉ biết lo thân

    Bẻ queo những chuẩn mực đạo lý nhân bản

    Lêu lổng qua ngày, mất hết tự trọng (Vô nghề, vô nghiệp, lêu lổng qua ngày)
    Trông đợi quá nhiều ở sự may rủi
    Thiếu tận tâm, tránh khó tìm dễ (Vốn mỏng lại thiếu tận tâm)
    Xấu làm tốt dốt làm thông
    Không biết tôn trọng cả lợi ích công cộng lẫn lợi ích cá nhân
    Những ham muốn tầm thường
    Giả dối thịnh hành, không biết nhìn ra sự thật (Không chịu nhìn sự thật)
    Giải thich sai các giá trị (Chỉ biết theo đuổi những giá trị tầm thường)
    Đạo lý ngược đời (Tha hóa một cách tự nhiên)
    Trung dung theo nghĩa nửa vời, trung dung cốt để ngu dân
    An nhàn lẫn với đê hèn nhục nhã
    Lười biếng và hay nói hão

    Giả dối, lừa lọc, kiêu ngạo, hiếu danh

    Không biết giữ chữ tín
    Hiếu danh đến mất tự trọng
    Bệnh giả dối quá nặng
    Sợ mang tiếng chứ không phải sợ cái xấu
    Chỉ giỏi diễn trò trước mặt mọi người
    Kiêu ngạo, hợm hĩnh, theo đuổi những cái hão huyền
    Khiêm nhường giả, kiêu căng thật
    Hay tự ái và thích chơi trội (Hay tự ái và hiếu danh)
    Tinh thần voi nan
    Học đòi, làm dáng (Ở đâu cũng thấy học đòi làm dáng)

    Một nếp tư duy đơn sơ, tùy tiện

    Kém óc khoa học
    Óc tồn cổ
    Quá vụ thực trong tư du
    Điều hòa với nghĩa… chắp vá bừa bãi
    Áp đặt chuyên chế mọi nơi mọi chỗ
    Gọt chân cho vừa giày
    Chỉ suy nghĩ bằng khuôn sáo
    Không chịu được những tìm tòi phá cách (Thù ghét mọi sự thay đổi)
    Bỏ cũ theo mới một cách nông nổi (Học không biết cách mà bỏ cũng không biết cách)
    Thói quen cam chịu
    Dễ dãi thô thiển thế nào cũng xong (Dễ dãi trong tiếp nhận nên hỏng việc)
    Tùy tiện thay đổi, chỉ cốt có lợi (Một nền nghệ thuật thiếu tư tưởng)

    Một số thói hư tật xấu khác

    Kéo bè kéo cánh nắm giữ quyền lực
    Đám đông chỉ chờ kiếm chác
    Nhìn đâu cũng thấy chuyện đáng chê cười
    Quá thiết thực hóa tầm thường
    Dân khí bạc nhược
    Pháp luật đơn sơ
    Văn chương nặng về chơi bời đùa giỡn
    Không có can đảm là mình
    Đời sống tinh thần suy đồi trống rỗng
    Dễ dãi trong quan hệ
    Chê bai bừa bãi, sinh nghi kỵ nhau
    Dân quá sợ quan
    Việc quan hỗn hào lẫn lộn
    Đã thành bia miệng trong dân
    Gánh nặng đông dân
    Mô phỏng đã thành thói quen
    Một quan niệm đơn sơ về thế giới
    Sang đến xứ người cũng không biết học hỏi
    Thông minh rút lại hóa ra tinh vặt
    Mê tín gây nhiều lãng phí
    Tinh hoa trở thành phù phiếm
    Bắt chước đến đánh mất cả bản ngã
    Quá tin ở những điều viển vông
    Tầm thường hóa những giáo lý sâu xa
    Vớ được sách nào theo sách ấy
    Đời sống tôn giáo hời hợt
    Người có tài cán mải chuyện đâu đâu
    Lễ nghi phong tục phiền phức
    Tâm lý học để đi thi
    Chơi bời lãng phí
    Dấu xưa tan biến
    Không có thì giờ lo đến văn hóa, đành đi vay mượn
    Những thói xấu thông thường
    Dễ tin nhảm
    Vàng thau lẫn lộn, nhầm của người với của mình
    Thiếu người trí thức dẫn đường
    Một đẳng cấp nho sĩ trì trệ
    Cả người có học cũng dễ trở nên tầm thường
    Hời hợt trong sự học
    Quanh năm chỉ những ăn uống
    Càmg bế tắc càng hư hỏng
    Không thật bụng trong khi giao tiếp
    Từ trên xuống dưới tự tư tự lợi
    Lan tràn thói đạo đức giả
    Tang ma xa xỉ
    Tục ấy thật quá hủ bại!
    Chỉ biết học cái bề ngoài
    Giam mình trong vòng khách sáo
    Mong tìm yên lành, hóa ra bảo thủ
    Từ chối mọi cuộc cải cách
    Không hình thành nổi một dư luận sáng suốt
    Con người thiên về buồn sầu não
    Nền văn hóa của kẻ yếu
    Những mâu thuẫn nội tại
    Phá hoại rồi bịa ra những thứ không đâu để thờ
    Cường hào lý dịch gian giảo điêu ngoa
    Làng xóm “quân hồi vô phèng”, không ai bảo được ai
    Ăn ở luộm thuộm
    Nông nổi, hời hợt
    Đối với những tư tưởng lớn chỉ hiểu sơ sài
    Tín ngưỡng xen lẫn hoài nghi
    Cần mẫn một cách bất đắc dĩ
    Trống rỗng tầm thường
    Tài hèn trí đoản, bán quẩn buôn quanh
    Cái gì cũng giả
    Những cuộc khao vong nặng nề vô nghĩa
    Đời sống hàng ngày hủ bại tầm thường
    Bóc lột thay cho quản lý
    Quan cao chức lớn cũng sống như kẻ hạ lưu
    Từ ảo tưởng tới thoái hóa
    Trì trệ và bất lực
    Thiết thực nhưng lại phù phiếm
    Hay nghi ngờ và làm hại nhau trong công việc
    Ỷ lại như một căn bệnh
    Biếng nhác, vô cảm, lẩn tránh
    Nặng óc hư danh
    Sống không lý tưởng
    Tuỳ tiện trong quản lý
    Mưu lợi trên sự kém cỏi của dân
    Giỏi bắt chước, thiếu sáng tạo

    (Nguồn: tusach.thuvienkhoahoc.com – https://mee.vn/rd36a)

    Bình chọn là câu trả lời hay nhất
  2. Bài viết của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn chia sẻ từ đọc sách “Người xưa cảnh tỉnh”

    “Người xưa cảnh tỉnh” (1) là một quyển sách thuộc vào nhóm sách ‘học làm người’ thời nay. Nhưng học để tránh thói xấu (chứ không học cái hay). Hai soạn giả Vương Trí Nhàn và Trần Văn Chánh mượn những lời nhận xét của người xưa về những thói hư tật xấu để cảnh tỉnh người Việt ngày nay. Đó là một cuốn sách không hẳn dễ đọc, nhưng khi đã đọc thì khó buông được, bởi vì hình như người đọc có thể tìm thấy hình bóng mình hay những người chung quanh trong từng câu chữ trong sách.

    Những sách cảnh tỉnh, vạch ra những thói hư tật xấu của một dân tộc không phải là mới, nhưng mới với Việt Nam. Người Mĩ đã có “The Ugly American”. Người Úc có “The Ugly Australian”. Người Nhật cũng có một cuốn sách tương tự (do một đại sứ Nhật viết). Gần chúng ta hơn, người Hoa cũng đã có một cuốn sách như thế. Thật vậy, đúng 20 năm trước, tác giả Bá Dương (Bo Yang) đã làm cho cả thế giới và cộng đồng người Hoa xôn xao khi ông cho xuất bản cuốn sách ‘Người Hoa Xấu Xí’ (Xú Lậu Đích Trung Hoa Nhân). Trong sách, Bá Dương (người Hoa sống ở Đài Loan) liệt kê và phê phán không khoan nhượng những nét văn hóa, những thói quen, những hủ tục ‘xấu xa’ của người Hoa. Ông không có một chữ nào để viết về những nét văn hóa ‘đẹp’ của Trung Hoa. Cuốn sách được bán rất chạy, và trở thành đề tài bàn luận của hầu hết các tầng lớp xã hội, từ giới bình dân đến trí thức. Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh dưới tựa đề ‘The Ugly Chinaman and the Crisis of Chinese Culture’ (và đã tái bản 3 lần), được xem là ‘cẩm nang’ của người phương Tây để hiểu biết hơn người Hoa.

    Nhưng người Việt thì chưa có một cuốn sách hoàn chỉnh như những cuốn ‘ugly’ đề cập trên đây; có lẽ cuốn ‘Người xưa cảnh tỉnh’ là gần nhứt. Tuy chưa có, nhưng các học giả Việt Nam trong quá khứ đã nhiều lần nói lên những tính xấu của người Việt. Họ viết ra những điều đó trong nhiều dịp và bối cảnh khác nhau, có khi rất cá nhân, nhưng nói chung là rất rải rác và rời rạc. Chúng ta chưa có một tổng luận có hệ thống về thói xấu của người Việt.

    Sách là một loại ‘anthology’ hay tập hợp những đoạn văn của các học giả Việt viết về tính cách và thói quen của người Việt. Đó là những học giả sống vào thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20 như Nguyễn Trường Tộ, Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Trọng Kim, Phan Khôi, Nguyễn Văn Huyên, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố, Ngô ĐứcKế, Đào Duy Anh, Hoàng Đạo, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Quỳnh, Dương Bá Trạc, v.v. Họ viết ra những nhận xét đó trong các bài báo và khảo luận văn hóa. Thời gian họ viết ra trong những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, khi nền báo chí học thuật Việt Nam bắt đầu khởi sắc. Những nhận xét đó được viết bằng thể văn có khi là học thuật, có khi là ngôn ngữ thô, nhưng nhiều khi là châm chọc.

    Sách gồm 2 phần: phần đầu là sưu tập những câu nói của các học giả, và phần hai là tổng luận. Phần I được sưu tập bởi tác giả Vương Trí Nhàn (Hà Nội). Phần II được viết bởi tác giả Trần Văn Chánh (Sài Gòn). Phần đầu, Vương Trí Nhàn có công sưu tập đến 260 câu nói của các học giả. Ông sắp xếp các phát biểu đó dưới 13 tiểu mục: ăn ở, cư trú và mối liên hệ với thiên nhiên; tệ nạn xã hội; dân trí và ý thức xã hội; giáo dục; giao lưu tiếp xúc; tìm tòi học hỏi và tiếp nhận người nước ngoài; làm ăn buôn bán; nói năng, suy nghĩ, lễ nghi, phong tục; quan hệ giữa người với người; tổ chức quản lí làng xã; tổng quát về người Việt; trí thức quan lại; và văn hóa nghệ thuật và học thuật. Phần tóm tắt có thể xem dưới đây (2). Như có thể thấy, đó là một danh sách dài những thói hư tật xấu của người Việt.

    Có thể xem cấu trúc quyển sách như là một tiểu luận mang tính học thuật định tính. Phần đầu là những dữ liệu (hay nói ‘chứng cứ’ cũng được), và phần hai là diễn giải những dữ liệu đó và đặt chúng vào bối cảnh hiện tại. Do đó, đọc phần đầu thì có thể hơi nhàm vì dữ liệu (260 câu trích dẫn), nhưng đọc phần hai thì thấy thú vị hơn vì người đọc sẽ hiểu những dữ liệu đó có ý nghĩa gì, và biết được những cách nhìn của tác giả. Bài tổng luận (tác giả gọi là ‘tổng thuật’) bắt đầu bằng một trường hợp liên quan đến một tiếp viên của Vietnam Airlines bị tạm giam ở Nhật vì nghi ngờ xách lậu hàng ăn trộm về Việt Nam, và tác giả Trần Văn Chánh bàn về những thói quen không mấy hay ho của người Việt. Tác giả trích lại nhận xét của học giả Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược về người Việt: ‘Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma quỷ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tông giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác.’ Tác giả cho rằng nhận xét đó khá đúng với tâm tánh của người Việt (dĩ nhiên là nói chung), dù nhiều người không muốn nhìn nhận điều đó. Tác giả Vương Trí Nhàn đi đến nhận xét rằng ‘Thói xấu lớn nhất của người Việt là rất sợ nói về thói xấu của mình.’

    Cũng như sách của Bá Dương, quyển ‘Người xưa cảnh tỉnh’ không có một lời nói nào tốt về người Việt, đơn giản vì đó không phải là mục tiêu của sách. Mục tiêu là mượn lời nói của người xưa để cảnh tỉnh người Việt thời nay. Người Việt thời nay, bên cạnh những nét văn hóa hay, còn có rất rất nhiều thói quen và quán tính chỉ có thể mô tả bằng một cụm từ: khó hòa nhập với thế giới văn minh.

    Đó là những thói quen và quán tính mà tác giả Vương Trí Nhàn và Trần Văn Chánh đề cập đến trong sách. Sách còn có những trích dẫn mà nếu đối chiếu lại ngày nay cũng khá thời sự tính, như nền giáo dục giết chết nhân cách (Đào Duy Anh) và nền giáo dục bị thương mại hóa (Thái Phỉ). Những thói như loanh quanh chỉ những ăn uống (nhận xét của Phan Kế Bính), mê muội hưởng lạc (Nguyễn Trường Tộ), mê tín gây lãng phí, ăn uống chơi bời bên cạnh nỗi đau của người khác (Phan Kế Bính), thạo sử người hơn sử mình (Hoàng Cao Khải), học đòi làm dáng sống sượng (Nguyễn Văn Vĩnh), chỉ biết học cái bề ngoài (Phạm Quỳnh), hiếu danh đến mất tự trọng (Phạm Quỳnh), chỉ trích và châm chọc (Lương Đức Thiệp), hay nghi ngờ và hại nhau trong công việc (Phan Bội Châu), khinh miệt cá nhân (Hoài Thanh), mưu danh bằng cách hạ nhục kẻ khác (Hoa Bằng), v.v. tất cả đều dễ dàng nhận ra trong xã hội ngày nay.

    Một câu hỏi đặt ra là những thói xấu vừa đề cập có phải là ‘văn hóa’. Nếu lí giải rằng cái nền văn hóa Việt Nam là nguyên nhân của những thói hư tật xấu đó có vẻ đơn giản hóa vấn đề, bởi vì người Việt ở nước ngoài có vẻ có ít thói xấu như thế so với người trong nước, và ngay cả ở trong nước cũng có sự khác biệt lớn về lề thói ứng xử giữa người miền Bắc và miền Nam trước 1975, hay sau và trước 1975. Tức là có một yếu tố khác, hơn là văn hóa, có thể giải thích tại sao những cái mà tác giả gọi là ‘thói hư tật xấu’ của người Việt. Tôi nghĩ rằng đó là thể chế chính trị – xã hội. Khi nói ‘thể chế’, tôi muốn nói đến cái tiếng Anh gọi là ‘institution’, chứ không hẳn là chế độ chính trị. Nhưng dĩ nhiên, có người sẽ nói chế độ đẻ ra thể chế văn hóa, nên người ta cũng có lí do qui về chế độ.

    Có nhiều nghiên cứu cho thấy người Á châu, kể cả người Việt, ít tin tưởng vào người lạ hơn là người Âu châu. Có lẽ vì văn hóa Á Đông phân biệt tương đối rạch ròi giữa Trong Nhóm và Ngoài Nhóm. Người Trong Nhóm dễ tin hơn người Ngoài Nhóm. Và, có người chỉ ra rằng các tập đoàn kinh tế người Hoa thường do người trong gia đình nắm quyền điều hành, còn các tập đoàn kinh tế Âu Mĩ thì ít có ‘thể chế gia đình trị’ đó, và do đó có thể giải thích tại sao nhiều tập đoàn kinh tế Á châu khó vươn ra ‘biển lớn’. Riêng trường hợp Việt Nam, mới có một cuộc điều tra xã hội cho thấy có khoảng 23% là người ta tin tưởng lẫn nhau, và có đến 80% người trả lời sẵn sàng lợi dụng người khác để hưởng lợi cho mình, nói lên một xã hội bị sứt mẻ niềm tin nghiêm trọng. Với một xã hội như thế thì chúng ta khó kì vọng gì lành mạnh và tươi sáng cho tương lai, cũng giống như bên Tàu, dù kinh tế có phát triển đây đó nhưng thế giới vẫn xem người Hoa là một loại hạng hai.

    ‘Người xưa cảnh tỉnh’ có thể làm cho nhiều người cau có, thậm chí giận dữ, bởi vì tác giả chỉ nêu lên những thói xấu của người Việt. Nhưng nếu có những nhận xét giận dữ và phản ứng hằn học với quyển sách thì điều đó chỉ thêm minh chứng về tính xấu của người Việt mà thôi. Tuy quyển sách chưa phải là một quyển ‘Người Việt Xấu Xí’ (chứ chưa chắc ‘xấu xa’) như cuốn của Bá Dương, vì tác giả chỉ ‘mượn’ người xưa, chứ chưa trực diện tấn công như Bá Dương. Tuy nhiên, những lời của người xưa và lí giải trong sách cũng đáng để chúng ta tham khảo.

    Nhưng mục tiêu của tác giả là cảnh tỉnh người thời nay. Cảnh tỉnh để tự sửa mình. Khi được hỏi người Việt nên bắt đầu từ đâu để tự sửa mình, tác giả nghĩ đến giáo dục và luật pháp. Tôi nghĩ đó có lẽ cũng là câu trả lời nhiều người nghĩ đến, nhưng chưa đủ. Giáo dục và luật pháp chịu sự chi phối nặng nề của thể chế chính trị, cho nên tôi nghĩ cái gốc và cũng là nơi khởi đầu chỉnh sửa chính là thể chế. Ngoài thể chế, tôi nghĩ vai trò của tôn giáo độc lập cũng vô cùng quan trọng. Có rất nhiều nghiên cứu tâm lí xã hội ở phương Tây cho thấy mối liên hệ dương tính giữa đạo đức xã hội, đạo đức cá nhân và mức độ hoạt động độc lập của tôn giáo. Do đó, cảnh tỉnh là ở cấp độ cá nhân, dù rất quan trọng, nhưng vẫn cần phải có sự tác động của ‘hệ thống’ thể chế và tôn giáo.

    ‘Người xưa cảnh tỉnh’ cũng có thể ví như là một tấm gương. Tấm gương đó có tác dụng phản chiếu để mỗi chúng ta nhìn thấy những tì vết tâm lí của chính mình mỗi ngày. Tôi nghĩ cuốn sách xứng đáng có mặt trong tủ sách của mỗi gia đình người Việt. Tác giả Bá Dương đã qua đời năm 2008, và trước ngày qua đời ông nhận định rằng cuốn sách ‘Người Trung Hoa Xấu Xí’ của ông đã giúp cho người Hoa tốt hơn. Chúng ta cũng hi vọng rằng quyền ‘Người xưa cảnh tỉnh’ của hai tác giả Vương Trí Nhàn và Trần Văn Chánh cũng có tác động tích cực như thế cho người Việt trong tương lai.

    _____________________

    (1) Sách “Người xưa cảnh tỉnh: thói hư tật xấu của người Việt trong con mắt các nhà trí thức nửa đầu thế kỉ 20” của hai tác giả Vương Trí Nhàn (sưu tầm) và Trần Văn Chánh (luận giải), do Nxb Tổng Hợp ấn hành năm 2018. Sách dày 284 trang, khổ nhỏ, giá bán 90,000 đồng.

    (2) Tóm tắt trong sách về những thói hư tật xấu của người Việt:

    1. Người Việt và ý thức công dân ý thức xã hội (Phần 1):

    Bảo thủ, dựa dẫm, cầu an; Tri túc và hiếu cổ; Cái gì cũng đổ tại trời; Ma quỷ sống lẫn với người hèn yếu; Ý thức quốc gia thức tỉnh quá chậm; Khi bàn chuyện quốc gia chỉ ham hư danh; Làm ra vẻ yêu nước để mưu lợi riêng; Lo việc nước theo lối tự tư tự lợi; Tư tưởng gia nô; Kém óc hợp quần; Một vài thói tục đã thành di truyền (một là học để làm quan, hai là làm quan ăn lót, ba là a dua người quyền quý, bốn là trọng xác thịt…); Sợ tự do, cam chịu làm nô lệ; Chưa trưởng thành trên phương diện công dân; Các hội nghề nghiệp yếu ớt ọp ẹp; Sinh hoạt hội đoàn dễ bị làm hỏng; Theo sự chi phối của quan niệm hư vô.

    2. Người Việt và ý thức công dân ý thức xã hội (Phần 2):

    Có độc lập cũng cướp đoạt của cải và chém giết nhau đến chết; Dân trí thấp kém… (hay nghi kỵ lẫn nhau, không làm nên việc gì cả…); Tôn sùng những điều xa hoa vô ích, bỏ bễ những sự nghiệp đáng làm; Chỉ biết lợi mình mà không biết hợp quần; Thương tiếc của riêng, không tưởng đến việc ích chung; Biết có thân mình nhà mình mà không biết có nước; Dễ ỷ lại; Trong việc nước cũng ai mạnh thì theo, bỏ hết liêm sỉ; Rên rỉ than vãn mỗi khi gặp khó; Không có chí viễn du; Xa lạ với chuyện phiêu lưu; Căn tính nô lệ, run sợ trước cái mới; Không thiết việc đời; Chống đối tự phát (như nhà nước đòi sơn thì dân chặt cây đi, nhà nước đòi vải lụa thì dân phá khung dệt, đòi gỗ thì dân quăng búa rìu, đòi tôm cá thì dân xé lưới…); Đi đâu cũng lo quay về làng; Ngoài làng xã không biết gì đến nước nhà đến thế giới; Tình yêu làng nước cản trở tiến bộ; Ương ngạnh, hoài nghi, khó dìu dắt.

    3. Người Việt qua cách nói năng cười cợt

    Không còn lễ nghĩa liêm sỉ; Những câu chửi rủa quá quắt; Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu, ta không ra ta; Thiên về những cái tầm thường thô bỉ; Tật huyền hồ sáo hủ (chỉ sự ăn nói lời nói linh tinh, trống rỗng, giả tạo…); Gì cũng cười (trong tiếng cười ẩn chứa nhiều ý xấu…); Tiếng cười vô duyên; Nói bừa nói bãi, tủi nhục cho cả nòi giống; Hay cãi nhau, thích kiện tụng; Chỉ trích và châm chọc.

    4. Thói hư tật xấu người Việt trong làm ăn buôn bán

    Thiếu cái gan làm giàu; Không lo xa, dễ thỏa mãn; Ăn xổi ở thì, chưa lo làm đã lo phá; Không biết chấn hưng thực nghiệp; Đồng tiền không dùng để sinh lợi; Những người thợ bất đắc dĩ; Buôn bán lòng vòng trong phạm vi hẹp; Không có nghề nào đạt tới trình độ chuyên nghiệp; Không chịu học buôn học bán; Khéo tay mà trí không khôn; Không ai chuyên nhất việc gì; Làm hàng bán hàng đều kém; Tài trí thua kém; Thời gian phí phạm cách sống làm điệu làm dáng; Quan niệm về kinh tế quá cổ lỗ; Giữa chủ và thợ không tìm được hình thức cộng tác thích hợp; Những cái gia truyền dần dần mất đi; Ngủ yên trên danh vọng; Bôi bác, giả dối, chỉ cầu rẻ; Người làm nghề không ngóc đầu lên được; Không biết thích ứng với xã hội hiện đại.

    5. Việc tìm tòi học hỏi và nền giáo dục của người

    Nhắm mắt bắt chước điều không hay của cổ nhân và ngại thay đổi; Dễ học cái dở; Học thuật hủ bại; Học để kiếm gạo; Học để làm quan; Học đòi vặt vãnh bỏ qua chuyện lớn; Nặng tính hiếu kỳ; Thần trí bạc nhược, thiếu óc tự lập; Như cái cây bị “cớm”; Con ma cử nghiệp giết chết sự học; Có khoa cử mà không có sự 22 nghiệp; Giáo dục hiện đại bị thương mại hóa; Thiếu niên hư hỏng; Đỗ đạt là xong, không còn cầu học; Một nền giáo dục giết chết nhân cách; Không có một nhà tư tưởng, không có người khao khát tìm đạo lý mới.

    6. Việc tìm tòi học hỏi và nền giáo dục của người Việt (2)

    Khi học thuật kém cỏi lòng người sinh ra phù phiếm, phong tục trở nên bại hoại; Nói láo nói linh; Không học nên thiếu tư cách làm người; Cái hay của người đến mình trở thành cái dở; Học không biết cách, luật pháp hồ đồ, cương thường giả dối; Không học được cách tư duy hợp lý; Không có học thuyết của mình (xưa nay ta chỉ có mấy lối học của Tàu truyền sang…); Việc bắt chước dễ dãi thường gây nhiễu loạn; Mô phỏng lâu ngày quên cả sáng tạo; Mình lại rẻ mình, bản thân tự làm hỏng; Tình nghĩa thầy trò bị hiểu sai lệch và bị lợi dụng; Chỉ lo nuôi không lo dạy; Sẽ có lúc mất hết đạo lý? (song song với vấn đề nghèo khổ, còn phải giải quyết vấn đề giáo dục…); Không chú trọng học thuật sẽ thành dân tộc bỏ đi.

    7. Thị hiếu nhỏ mọn và chất bi thương sầu cảm trong văn chương

    Thị hiếu tầm thường; Văn chương phù phiếm, toàn giọng bi thương; Đằng sau thói quen đẽo gọt là sự nhu nhược; Chỉ giỏi về văn thù ứng; Tưởng thật mà hóa dối; Khinh miệt cá nhân; Không tìm thấy bản sắc; Phê bình nghĩa là nịnh nọt; Nhắm mắt bắt chước cốt kiếm lợi; “Tiểu thuyết của phường coi cổng” (những cuốn tiểu thuyết hay nhất của ta bây giờ, già lắm chỉ bằng những cuốn tiểu thuyết của phường coi cổng bên Pháp mà thôi!…); Nhiều trò quảng cáo bỉ ổi; Những nhạc điệu rời rạc, ẻo lả; Nặng tính trang sức mà thiếu sức sống (nghệ thuật Việt Nam thường bị bó buộc trong lề lối cổ…); Kiếp người bấp bênh văn chương sầu não.

    8. Quan hệ giữa người với người: tham lam ích kỷ cạnh tranh nhỏ nhặt

    Không ai hết lòng với ai; Tham lợi dẫn đến vô cảm; Không biết hợp quần; Ích kỷ và khôn vặt; Chỉ biết cạnh tranh trong những việc tầm thường, lặt vặt; Vừa không thiết chuyện gì, vừa xét nét nhỏ nhặt; Lợi dụng đạo nghĩa kiếm lợi; Danh dự bị hiểu sai lạc và mang ra mua bán; Trông nhau để… yên tâm trục lợi; Cách sống của kẻ cùng đường; Mưu danh bằng cách hạ nhục kẻ khác; Chỉ biết lo thân.

    9. Bẻ quẹo những chuẩn mực đạo lý nhân bản

    Lêu lổng qua ngày, mất hết tự trọng; Trông đợi quá nhiều ở sự may rủi; Thiếu tận tâm, tránh khó tìm dễ; Xấu làm tốt dốt làm thông; Không biết tôn trọng cả lợi ích công cộng lẫn lợi ích cá nhân; Những ham muốn tầm thường; Giả dối thịnh hành, không biết nhìn ra sự thật; Giải thích sai các giá trị (hỏi trọng gì, ắt là võng lọng cân đai; hỏi quý ai, tất là ông cả bà lớn; hỏi cái gì là sang, tất là xe ngựa lâu đài ngọc ngà gấm vóc…); Đạo lý ngược đời; Trung dung theo nghĩa nửa vời, trung dung cốt để ngu dân (“Trung dung thật là một cái thuyết lôi thôi, mà xã hội ta chịu lấy cái ảnh hưởng trung dung ấy mà hóa ra một cái xã hội ương ương dở dở, trắng không ra trắng đen không ra đen…”); An nhẫn lẫn với đê hèn nhục nhã; Lười biếng và hay nói hão…

    10. Giả dối, lừa lọc, kiêu ngạo, hiếu danh

    Không biết giữ chữ tín; Hiếu danh đến mất tự trọng; Bệnh giả dối quá nặng; Sợ mang tiếng chứ không phải sợ cái xấu; Chỉ giỏi diễn trò trước mặt mọi người; Kiêu ngạo, hợm hĩnh, 23 theo đuổi những cái hão huyền; Khiêm nhường giả, kiêu căng thật; Hay tự ái và thích chơi trội; Tinh thần voi nan (những con voi to lớn lắm, có đủ chân đủ vòi, nhưng nó ở trong bằng nan ở ngoài bằng giấy…); Học đòi, làm dáng.

    11. Nếp tư duy đơn sơ tùy tiện

    Kém óc khoa học; Óc tồn cổ; Quá vụ thực trong tư duy; Điều hòa với nghĩa… chắp vá bừa bãi; Áp đặt chuyên chế mọi nơi mọi chỗ; Gọt chân cho vừa giày; Chỉ suy nghĩ bằng khuôn sáo; Không chịu được những tìm tòi phá cách; Bỏ cũ theo mới một cách nông nổi; Thói quen cam chịu; Dễ dãi thô thiển thế nào cũng xong; Tùy tiện thay đổi, chỉ cốt có lợi.”

    (Nguồn: https://mee.vn/vD90t)

    Bình chọn là câu trả lời hay nhất

Trả lời